Ba đậu
Tổng quan & Dược lý
Tên gọi, danh pháp
Tên Tiếng Việt: Ba đậu.
Tên khác: Ba đậu tàu, Mần để, Mắc vát (Tày), Cóng khói, Mãnh tử nhân, Bã đậu, Giang tử, Lão dương tử, cây Để, cây Đết, Ba nhân phổn (Hòa Bình),…
Tên khoa học: Croton tiglium L.
Đặc điểm tự nhiên
Ba đậu thuộc loại cây gỗ nhỡ, lúc nhỏ hơi chịu bóng, sau trưởng thành ưa sáng, cao 3 – 6 m, cành và vỏ thân nhẵn, lá mọc so le, nguyên, mép có răng cưa nhỏ, hình trứng, đầu nhọn, dài 6 – 8cm, rộng 4 – 5 cm, cuống nhỏ, dài 1 – 2 cm, lá non có màu nâu đỏ, khi khô có màu vàng. Hoa mọc thành chùm ở ngọn dài 10 – 20 cm, ở đầu cành, hoa cái ở phía dưới, hoa đực ở trên đỉnh; hoa đực có cuống nhỏ mảnh và nhẵn dài 1 – 3 mm. Lá đài 5, hình bầu dục có lông ở đầu, cánh hoa 5, thuôn, có lông mịn ở mép và mặt trong. Nhị 17, bao phấn thuôn; hoa cái có cuống phủ lông tơ hình sao, lá đài 5 thuôn nhọn, cánh hoa 1 – 2 hoặc không có, có lông mịn ở mép, bầu hình cầu, có nhiều lông, vòi nhụy 3 xẻ đôi. Quả nang hình trứng hoặc hình cầu, nhẵn, màu vàng nhạt, cao 2 cm, có 2 mảnh vỏ khi chín tách ra. Hạt hình trứng dài 10 mm, rộng 4 – 6 mm, ngoài vỏ cứng, mờ, màu nâu xám.

Cây Ba đậu thuộc loại cây gỗ nhỡ
Phân bố, thu hái, chế biến
Phân bố
Ba đậu mọc hoang và được trồng ở nhiều tỉnh vùng núi thấp và trung du, vùng đồng bằng cũng có khả năng tìm thấy ba đậu. Ở miền Bắc các tỉnh có nhiều ba đậu là Yên Bái, Hòa Bình, Thái Nguyên, Sơn La, Cao Bằng, Thanh Hóa, Bắc Kạn. Còn mọc ở Trung Quốc (Vân Nam, Quảng Đông, Quảng Tây, Tứ Xuyên, Hồ Nam, Hồ Bắc), Lào, Campuchia, Thái Lan, Ấn Độ, Srilanka, Myanmar…
Thu hái, chế biến
Vào tháng 8 – 9, quả chín nhưng chưa nứt các mảnh vỏ, hái về phơi khô đập lấy hạt, phơi khô thêm lần nữa.
Một cách bảo quản khác đơn giản hơn là quả ba đậu sau khi thu hái, người ta để nguyên cả quả đem phơi khô, khi dùng mới đập lấy hạt.

Cây Ba đậu quả chín nhưng chưa nứt các mảnh vỏ
Bộ phận sử dụng
Bộ phận dùng của Ba đậu là hạt, phơi khô để nguyên quả cho dễ bảo quản. Ngoài ra, các bộ phận khác như lá và rễ đôi khi cũng được sử dụng.
Hạt Ba đậu chứa dầu là một loại chất độc nên khi dùng phải loại bỏ bớt chất độc.
Các cách loại độc tính của Ba đậu:
Ba đậu bỏ vỏ, giã nhỏ nhân hạt, quấn giấy bản rồi ép, giấy sẽ thấm dầu. Thay giấy mới nhiều lần, ép cho đến khi hết kiệt dầu rồi đem sao vàng. Hạt Ba đậu sau khi ép hết dầu đi rồi gọi là “Ba đậu sương”.
Hạt Ba đậu làm khô như trên rồi sao già cho đến khi có màu đen, Ba đậu được chế biến như vậy có độ độc thấp hơn và gọi là “Hắc Ba đậu”.
Liều lượng & Cách dùng
Chữa hàn tích đình trệ, trục đờm, hành thủy
Ngày dùng 0,01 – 0,05g Ba đậu sương, có thể làm viên hoặc chế cao. Để tăng hiệu quả, thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác.
Chữa táo bón
Theo kinh nghiệm của nhân dân Campuchia, hạt Ba đậu được dùng như sau: Lấy một quả chanh, cắt ngang đầu, lấy hết hạt chanh ra, thanh bằng ít hạt Ba đậu, sau đó đun với 300ml nước cho đến khi cạn nước và quả chanh khô thì giã nhỏ cả quả chanh và hạt Ba đậu trong đó, rồi viên thành viên cỡ bằng hạt tiêu. Sấy khô để dành. Liều lượng sử dụng là 1 viên nếu muốn đi ngoài 1 lần và 2 viên nếu muốn đi 2 lần. Với cách chế biến như vậy sẽ ít gây đau bụng hơn khi dùng.