Thông tin hoạt chất y học

Bạch đầu ông

Dạng bào chế & Đóng gói:Dược liệu

Tổng quan & Dược lý

Tên gọi, danh pháp

Tên Tiếng Việt: Bạch đầu ông.

Tên gọi khác: Hồ vương sứ giả; Bạch đầu thảo; Miêu đầu hoa; Phấn thảo; Phấn nhũ thảo.

Tên khoa học: Vernonia cinerea (L.) Less , thuộc họ Cúc (Asteraceae), tên đồng nghĩa: Conyza cinerea L.

Đặc điểm tự nhiên

Bạch đầu ông là loài cây thảo cao 20 – 80cm, rất đa dạng và sống lâu năm. Cây mọc rải rác hay thành đám nhỏ trên đất ẩm ở vườn, các bãi đất hoang quanh làng, ven đường đi và trên nương rẫy. Thân cây đứng và có khía dọc và lông mềm áp sát. Thân cây thường mọc thẳng và có hình trụ.

Lá hình dải, hình mũi mác hay hình quả trám, gần như nguyên hoặc có mép răng cưa nhỏ. Lá cây thường mọc so le, kích thước rất thay đổi, gốc lá thuôn và đầu lá nhọn.

Cụm hoa ngù ở ngọn thân, đôi lúc mọc ở bên, gồm nhiều đầu (khoảng từ 15 đến 20 cái). Lá bắc xếp thành 3 hàng. Mào lông màu trắng hoặc vàng nhạt, có lông dài ngắn không đều nhau, những lông ngoài rất ngắn, đầu có mũi nhọn mảnh. Tràng hoa có màu hồng hay đo đỏ, các thùy hoa thuôn hình chỉ. Bên cạnh đó, bao phấn có tai rất ngắn.

Quả bế có lông nhung dày, có hoặc không có rạch xung quanh.

Cây Bạch đầu ông thường ra hoa và có quả từ tháng 4 đến tháng 5.

bạch đầu ông

Cụm hoa Bạch đầu ông

Phân bố, thu hái, chế biến

Chi Vernonia Chreb được biết đến 23 loài đa dạng ở Việt Nam trong đó có loài Bạch đầu ông kể trên (qua nghiên cứu của Nguyễn Tiến Bân và cộng sự năm 2005).

Cây Bạch đầu ông phổ biến khắp nước ta từ miền núi cao khoảng 1.500m trở lên đến trung du và đồng bằng, ngoại trừ vùng núi. Loài này cũng phân bố rộng rãi ở nhiều quốc gia như Ấn Độ, Mianma, Trung Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaixia, Inđônêxia, Nuven-Calêđôni cho đến tận vùng Đông Phi và Australia.

Bộ phận sử dụng

Bộ phận sử dụng là toàn cây – Herba Vernoniae Cinereae. Bạch đầu ông thường được thu hái toàn cây quanh năm, tốt nhất là vào mùa hè, rửa sạch, dùng tươi hay phơi khô.

Liều lượng & Cách dùng

Ngày dùng 15 - 30g cây khô sắc uống với các vị thuốc khác.

Dùng lá già đắp để chữa đinh nhọt, rắn cắn và bệnh ngoài da. Bột lá lẫn với vôi dùng đắp trị đau đầu, vết thương. Có thể dùng cành lá nấu nước rửa.