Thông tin hoạt chất y học

Bầu đất

Dạng bào chế & Đóng gói:Dược liệu

Tổng quan & Dược lý

Tên gọi, danh pháp

Tên tiếng việt: Bầu đất, Kim thất.

Tên khác: Rau lúi, Khảm khon (Thổ), Thiên hắc địa hồng, Dày chua lè, Chi angkam (Campuchia).

Tên khoa học: Gynura procumbens (Lour.) Merr; Gynura sarmentosa DC.

Thuộc họ: Cúc Asteraceae (Compositae).

bầu đất 1

Cây dược liệu bầu đất

Đặc điểm tự nhiên

Bầu đất là một loại cỏ có nhiều cành, thân nhẵn, trong như mọng nước. Lá hình trứng, tù hoặc tròn ở đáy lá, nhọn ở đầu, hơi có răng nhỏ ở mép, dài 3 - 8 cm, rộng 0,5 - 1,5 cm, rất nhẵn, mọng nước, cuống ngắn. Phiến lá có mặt trên màu xanh thẫm trông như đen, mặt dưới màu đỏ tím, do đó có tên: Thiên hắc địa hồng. Thiên hắc nghĩa là trời (ý nói mặt trên) có màu đen, địa hồng nghĩa là mặt dưới màu hồng.

Cụm hoa màu vàng cam hình đầu, mọc thành ngù kép, lá bắc ngoài hình sợi, dài 6 mm, lá bắc phía trong 8 - 12 chiếc, dài 15 mm, hơi khô xác ở mép.

Quả bế nhẵn, hình trụ, có 10 sống.

Mùa hoa quả: Tháng 1 - tháng 4.

Phân bố, thu hái, chế biến

Cây bầu đất được trồng và mọc hoang ở nhiều nơi trong nước ta, từ Bắc đến Nam, miền núi cũng như miền xuôi.

Chi Gynura Cass. gồm các loài hầu hết là cây thảo, một vài loài là cây bụi nhỏ, có cành vươn dài, mọc dựa; phân bố rải rác ở các vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới và ôn đới ẩm. Ở Việt Nam chi này có khoảng 10 loài, trong đó 4 hoặc 5 loài được dùng làm thuốc. Bầu đất là một loại rau ăn, loại rau này khá thông dụng cho người và gia súc (lợn, bò). Nhiều nơi có kinh nghiệm lâu năm dùng bầu đất làm thuốc.

Cây phân bố chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía bắc như Lạng Sơn, Cao Bằng, Yên Bái, Lào Cai, Hà Giang, Lai Châu, Hòa Bình với độ cao phân bố tới 1600 m, ở các tỉnh phía Nam ít gặp hơn. Bầu đất còn thấy ở một số nước khác như Ấn Độ, Nam Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan, Lào, Philippin.

Bầu đất thuộc loại cây ưa sáng, ưa ẩm, thường mọc ở đất còn tương đối màu mỡ, nhất là các vùng núi đá vôi, hoặc xung quanh nương rẫy. Cây có khả năng mọc nhanh, ra chồi khỏe. Chính vì vậy mà trong một vụ xuân hè và cả mùa thu người ta có thể thu hái rau được rất nhiều lần. Tuy nhiên chỉ có những cây ít bị ngắt ngọn mới có hoa quả thường xuyên.

bầu đất 3

Bầu đất ưa sáng, ưa ẩm

Bầu đất chủ yếu được khai thác từ nguồn hoang dại. Ở một số địa phương, nhân dân có trồng làm rau ăn. Bầu đất được thu hái vào mùa hạ, dùng toàn cây tươi hoặc phơi khô.

Bộ phận sử dụng

Người ta thường sử dụng toàn cây, thường dùng tươi.

Liều lượng & Cách dùng

Chỉ mới thấy sử dụng trong phạm vi dân gian. Nhiều nơi nấu canh ăn như canh rau.

Thân và lá thường được dùng phối hợp với nhiều vị thuốc để chữa sốt trong các bệnh sởi, scaclatin, kinh nguyệt không đều, thiếu máu, lỵ và những bệnh về thận.

Ngày dùng 30 – 40 g hay hơn dưới dạng thuốc chữa đau mắt: Lá rửa sạch, thêm vài hạt muối, sắc giã nhỏ đắp lên mắt đau.