Thông tin hoạt chất y học

Bầu nâu

Dạng bào chế & Đóng gói:Dược liệu

Tổng quan & Dược lý

Tên gọi, danh pháp

Tên Tiếng Việt: Bầu nâu.

Tên khác: Cây trái nấm, Trái mấm, Golden apple, Holy fruit, Stone apple, Bael tree, Bengal quince (Anh), Marmelos de Bengal (Pháp).

Tên khoa học: Aegle marmelos (L.) Correa, thuộc họ Cam - Rutaceae.

Đặc điểm tự nhiên

Bầu nâu là loài cây gỗ, thân cao từ 6 đến 15 m. Thân hình trụ, vỏ thơm và màu vàng đen, khi thân già thì có màu đen. Nhánh cây hơi thòng và mảnh, mọc tỏa rộng xung quanh. Ở nách cây có gai to hoặc có khi không có gai. Gai cây mọc xếp theo từng đôi hoặc đơn độc, dài khoảng 2,5 cm, có màu vàng, phần mũi nhọn thì màu đen.

Bầu nâu có lá kép thuôn, hình ngọn giáo, dài khoảng 15 - 16 cm. Mũi lá cứng cong ở đầu, có mép uốn lượn, thường có 3 lá chép, cái cuối cùng lớn hơn. Khi vò là sẽ thấy mùi giống lá cam. Lá của bầu nâu có lóng ở gân, mặt sau thì nhẵn. Lá chét tận cùng có cuống đài, gân lá nổi rõ ở mặt dưới, mép lá có răng. Cuống lá dài từ 4 đến 6 cm và có gốc phình.

Cụm hoa mọc thành chùm kép hoặc đơn ở kẽ lá. Hoa to, từ 4 đến 5 cánh, đặc biết hoa rất thơm và thường xuất hiện cùng lúc với lá. Cánh hoa có màu trắng lục nhạt,  hình trái xoan, nhẵn. Lá bắc nhỏ và có vảy. Hoa có từ 4 đến 5 lá đài, hình tam giác, có lông ở mặt ngoài. Số lượng nhị hoa nhiều, chỉ nhị ngắn và nhẵn; bầu hoa nhẵn.

Quả mọng, treo, đường kính 6 – 8 cm, hình cầu dẹp hay dạng trứng, màu lục, to bằng quả cam. Vỏ quả nhẵn và cứng bao phủ một lớp cơm nhầy, chia ra 10 - 15 ô, chứa mỗi ô 6 – 10 hạt thuôn, dẹp, có lông màu trắng.

Sinh thái: Cây mọc ở độ cao 600 m. Cây thường rụng lá theo mùa. Mùa hoa của bầu nâu từ tháng 5, và mùa ra quả từ tháng 12.

bầu nâu 1

Quả bầu nâu

Phân bố, thu hái, chế biến

Bầu nâu có nguồn gốc ở vùng cận Himalaya thuộc Ấn Độ. Hiện nay, cây mọc tự nhiên và được trồng ở Ấn Độ, Sri Lanka, Pakistan, Bangladesh. Bầu nâu còn được nhập trồng sang một số nước Đông Nam Á như Trung Quốc (Vân Nam), Lào, Campuchia, Thái Lan, phía bắc đảo Luzon (Inđônêxia), Bắc Malaysia, phía đông đảo Java, Việt Nam.

Ở Ấn Độ, cây mọc tự nhiên ở kiểu rừng khô, đến độ cao 1.200 m (ở Punjab). Cây vẫn sinh trưởng tốt khi đem về trồng ở vùng đồng bằng.

bầu nâu 2

Cây bầu nâu có nguồn gốc ở Ấn Độ

Ở Việt Nam, bầu nâu được trồng rải rác ở một số tỉnh thuộc Đông và Tây Nam Bộ. Trồng ở nhiều nơi, từ Bình Dương, Đồng Nai, TP. Hồ Chí Minh đến Long An, Cần Thơ,…

Cây thường có trong các vườn cây ăn quả, ưa sáng và rụng lá về mùa khô. Vốn có nguồn gốc ở vùng cận nhiệt đới, sau được trồng ở vùng nhiệt đới nóng và ẩm, bầu nâu dần trở thành cây có biên độ sinh thái rộng. Cây có thể chịu được nhiệt độ đến 49 độ C về mùa hè và -7 độ C về mùa đông (vùng Đông Bắc Ấn Độ).

Cây trồng ở miền Nam Việt Nam sinh trưởng phát triển tốt trong điều kiện nhiệt độ không khí trung bình năm từ 23 đến 26 độ C; ra hoa quả nhiều, gieo trồng dễ dàng bằng hạt hay chồi rễ. Cây trồng được 5 năm bắt đầu có nhiều hoa quả; thời gian thu hoạch được nhiều quả kéo dài trong khoảng 15 năm.

Bộ phận sử dụng

Bộ phận dùng được là quả, lá và vỏ - Fructus, Folium et Cortex Aegles.

Liều lượng & Cách dùng

Bầu nâu được sử dụng với liều lượng, cách dùng như sau:

  • Ở Vân Nam (Trung Quốc) quả ăn dùng trị ỉa chảy do lỵ, ỉa chảy và sưng đau họng. Liều dùng 3 - 9 g, sắc nước, chia làm 2 - 3 lần uống trong ngày.
Hoạt chất Bầu nâu - Tác dụng, Chỉ định & Liều dùng | Sống Khoẻ