Bèo đất
Tổng quan & Dược lý
Tên gọi, danh pháp
Tên Tiếng Việt: Bèo đất.
Tên khác: Cỏ tỹ gà, Cỏ bắt ruồi, Bắt ruồi, Cỏ trói gà, Trường lệ Burmann, Mao cao thất, Fly - catcher sundrew, Burman’s sundew, dew - plan (Anh); droséra, rossolie en boucher (Pháp).
Tên khoa học: Drosera burmannii Vahl, thuộc họ Gọng vó - Droseraceae.
Đặc điểm tự nhiên
Bèo đất là một loài cây thảo nhỏ, sống lâu năm, chiều cao từ 5 đến 30 cm. Thân cây nhẵn và gầy, không mang lá nhưng mang hoa ở ngọn, trên thân có lông tuyến.
Lá dẹp, mọc lan tỏa ra xung quanh, xếp thành hình hoa thị ở gốc sát đất. Gốc thuôn nhỏ dài như hình thìa. Phiến lá hình tròn hoặc bầu dục, có chiều dài 10 - 12mm, chiều rộng 4mm, mặt lá phủ đầy lông tuyến có chiều dài tương đương với chiều rộng của lá. Cây Bèo đất là một dạng sống đặc biệt trong giới thực vật. Lá cây còn có chức năng hấp thụ chất hữu cơ khi bẫy được các con côn trùng nhỏ. Lông tuyến tiết ra một chất lỏng, dính, óng ánh để bắt sâu bọ. Ngọn lá cuộn thành hình xoắn ốc.
Hoa Bèo đất mọc đều, lưỡng tính, nhỏ, màu trắng, hồng hay tím nhạt. Cụm hoa mọc thành xim bọ cạp trên một cán dài, mảnh, xuất phát từ giữa túm lá, mang 15 - 20 hoa đều. Đế hoa phẳng hoặc hơi lồi; đài hoa gồm 5 phiến có tiền khai nanh sấu, mặt ngoài có lông dài; tràng có 5 cánh kếp lợp hoặc hình van. Nhị 5, xếp xen kẽ với cánh hoa, bao phấn nứt dọc, lúc đầu quay ra ngoài, sau hướng vào trong, bầu thượng 1 ô. Nhụy và noãn hoa nằm ở vị trí cao giúp thụ phấn dễ dàng hơn. Quả bầu đất thuộc dạng quả nang mở bằng 3 - 5 mảnh vỏ, bên trong có nhiều hạt xốp.
Sinh thái: Cây mọc trên đất chua vùng đồng bằng. Mùa ra hoa từ tháng 3 đến tháng 4. Mùa hoa quả từ tháng 5 đến tháng 7.

Cây Bèo đất thường phát triển ở khu vực ẩm ướt
Phân bố, thu hái, chế biến
Chi Drosera L. có 85 loài trên thế giới, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới Nam bán cầu, đặc biệt ở Australia và New Zealand có 53 loài, Nam Phi: 9 loài, Nam Mỹ: 15 loài, Việt Nam: 3 loài. Ở Châu Âu chỉ có 3 loài. Ở Việt Nam, trong số 3 loài đã biết, chỉ có Bèo đất phân bố tương đối phổ biến hơn cả. Cây Bèo đất được tìm thấy ở nhiều nước trên thế giới như Ấn Độ, Xri Lanca, Trung Quốc, Campuchia, Malaixia, Australia.
Ở nước ta, loại cây này mọc hoang trên các gò đất ẩm, đầm lầy và cả những khu ruộng bạc màu. Cây ưa phát triển ở những nơi có ánh sáng và thường mọc trên đất chua, bạc màu. Cây Bèo đất có nhiều ở nước ta, thường gặp từ Vĩnh Phúc, Quảng Ninh vào Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế, Quảng Nam, Kon Tum, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Bình Thuận, Bình Dương, Bến Tre,… Cây Bèo đất phát triển và thu hoạch quanh năm. Khi thu hoạch, cây sẽ được nhổ cả rễ, đem rửa sạch tạp chất và phần đất cát bám dính dưới gốc. Cuối cùng phơi khô để làm thuốc.
Bộ phận sử dụng
Toàn cây Bèo đất – Herba Droserae đều được dùng để chữa bệnh.
Liều lượng & Cách dùng
Cách dùng cây Bèo đất làm thuốc trấn kinh, chữa ho gà như sau: Ngày uống 3 lần, mỗi lần 10 giọt (cồn bèo đất tỷ lệ ⅕). Liều lượng có thể thay đổi tùy theo cơ địa của người bệnh. Có thể dùng dưới dạng cao (viên 0,05g).
Cách sử dụng:
- Sắc uống;
- Bào chế thành cao;
- Ngâm rượu;
- Điều chế thành siro uống.

Cây Bèo đất sử dụng tất cả các bộ phận để chữa bệnh