Bổ cốt chỉ (Quả)
Tổng quan & Dược lý
Tên gọi, danh pháp
Tên Tiếng Việt: Bổ cốt chỉ.
Tên khác: Phá cố chi, Phản cố chỉ, Phá cốt tử, Cát cố tử, Hạt đậu miêu.
Tên khoa học: Psoralea Corylifolia L. Cánh bướm - Papilionaceae.
Đặc điểm tự nhiên
Bổ cốt chỉ hay Phá cố chỉ là cây thân thảo, ít phân nhánh. Cây trưởng thành có thể cao đến 1m. Lá chét mọc đơn độc, hình trái xoan. Mép lá có răng thô, hai bên mặt chứa nhiều tuyến màu đen, hình mắt chim. Bổ cốt chỉ ra hoa màu tím. Quả dài khoảng 5mm, hình trứng thuôn dài, có mủ, màu đen. Hạt một, nhẵn, dính vào vỏ quả, màu nâu đen, dài khoảng 2mm, thuôn dài, dẹt, không mùi nhưng khi nhai có mùi hăng, vị đắng, khó chịu, chát. Cây ra hoa trong mùa mưa và hạt chín vào tháng 11. Nếu được chăm sóc thích hợp, cây có thể tiếp tục phát triển trong 5 - 7 năm.

Bổ cốt chỉ là một loại cây thân thảo với nhiều tác dụng điều trị bệnh
Phân bố, thu hái, chế biến
Phân bố: Loại thảo dược này có nguồn gốc từ Ấn Độ sau đó di thực sang Việt Nam.
Thu hái: Thu hoạch vào mùa thu khoảng tháng 9 hằng năm.
Chế biến: Hái cụm quả đã chín, phơi khô, tách lấy hạt. Hạt sau khi thu hái được rửa sạch, để ráo, sau đó sao qua với một ít muối rồi mang đi phơi nắng. Khi cần dùng, ngâm Bổ cốt chỉ với rượu một đêm rồi lại ngâm với nước một đêm. Kế đến ta đem hạt đi phơi khô, tẩm muối sao trên lửa nhỏ. Tỷ lệ Bổ cốt chỉ và muối là 100g dược liệu: 2.5kg muối.
Bộ phận sử dụng
Bộ phận dùng làm thuốc là phần hạt phơi khô của cây Bổ cốt chỉ.

Bộ phận dùng làm thuốc của Bổ cốt chỉ là hạt phơi khô
Liều lượng & Cách dùng
Liều dùng: Lượng Bổ cốt chỉ thường dùng là 6g/ngày.
Cách dùng: Bổ cốt chỉ có thể dùng tươi, phơi khô, tán thành bột, làm viên hoàn, nấu cao hoặc sắc. Bổ cốt chỉ có thể dùng một mình hoặc kết hợp với các vị thuốc khác.