Bông Gạo (Hạt)
Tổng quan & Dược lý
Tên gọi, danh pháp
Tên Tiếng Việt: Cây Bông gạo.
Tên khác: Cây gạo; cây bông gòn; cây gòn; cây bông lụa; cây bông Java.
Tên khoa học: Ceiba pentandra (L.) Gaertn. – Bombax pentandrum L, thuộc họ Bombacaceae.
Đặc điểm tự nhiên
Cây Gạo có thể cao tới 15m hay hơn, cành mọc ngang với những gai hình nón, thân cũng có gai. Cành non dày, không gai. Lá rụng sớm, kép chân vịt với 5 đến 8 lá chét hình mác hay hình trứng, dài 9 - 15 cm, rộng 4 - 5 cm. Hoa đỏ, nhiều, mọc trên những cành nhỏ trước khi có lá non.
Quả nang hình thoi, dài 8 - 15 cm với 5 van cứng, mặt trong có nhiều sợi bông. Hạt hình trứng, xung quanh có lông dài, trắng, mịn. Cây trồng, mọc ở độ cao dưới 900m. Ra hoa tháng 1 – 3, có quả tháng 3 – 4.

Cây Bông gạo
Phân bố, thu hái, chế biến
Cây Gạo được trồng ở khắp các tỉnh miền Bắc nước ta nhất là hai bên đường, Sơn La vào các tỉnh phía Nam. Còn mọc ở Ấn Độ, Indonesia, Trung Quốc.
Người ta dùng vỏ, rễ và chất gôm của cây Gạo, thường dùng tươi. Vỏ cây bốc về cạo bỏ vỏ thô và gai, rửa sạch, thái nhỏ phơi hay sấy khô sắc uống hay giã nát dùng tươi. Hoa và hạt cũng được dùng.
Những bông Gạo là nguồn cung cấp mật hoa và phấn hoa quan trọng cho ong mật và dơi. Dơi là loài thụ phấn chính của những bông hoa nở về đêm.
Dầu Bông gạo có thể được ép từ hạt. Dầu có màu vàng, mùi và vị dễ chịu. Nó nhanh chóng bị ôi thiu khi tiếp xúc với không khí. Dầu Kapok được sản xuất ở Ấn Độ, Indonesia và Malaysia. Nó có giá trị iốt từ 85–100; điều này làm cho nó trở thành một loại dầu không sấy khô, có nghĩa là nó không bị khô đáng kể khi tiếp xúc với không khí. Dầu có một số tiềm năng làm nhiên liệu sinh học và trong pha chế sơn.
Bộ phận sử dụng
Vỏ, rễ, chất gôm cây Gạo. Lá non, hoa và hạt.
Liều lượng & Cách dùng
Vỏ Gạo thường được dùng bó gãy xương, vỏ tươi giã nát bó vào nơi gãy, sao vàng sắc đặc để uống làm thuốc cầm máu, chữa lậu, thông tiểu. Mỗi ngày uống 15 - 20g. Có thể sắc và ngậm chữa đau răng.
Do chất nhầy trong vỏ, vỏ Gạo còn được dùng để loại bỏ tạp chất khi chế tinh bột, vì chất nhầy có tác dụng quện những tạp chất của tinh bột.
Hoa Gạo sao vàng sắc uống chữa ỉa chảy, kiết lỵ. Ngày uống 20-30g.

Hoa gạo sao vàng sắc uống chữa ỉa chảy, kiết lỵ
Lá non làm thuốc lợi sữa. Lá giã nấu nước gội đầu. Ngoài ra các chồi non và lá Bông gạo còn dùng làm thuốc gây nôn và giải độc rượu.
Hạt còn dùng ép lấy dầu. Khô dầu (bã hạt sau khi ép lấy dầu) được dùng cho súc vật ăn để ra sữa.
Chất gôm cây gạo được dùng uống chữa lậu, thông tiểu, cho mát. Ngày uống 4 - 10g.
Rễ Bông gòn dùng trị bò cạp đốt, cũng dùng sắc uống trị sốt rét, lỵ mạn tính, ỉa chảy, cổ trướng và phù toàn thân. Dịch rễ dùng trị đái đường.