Bông ổi
Tổng quan & Dược lý
Tên gọi, danh pháp
Tên tiếng Việt: Cây bông ổi.
Tên khác: Trâm ổi; thơm ổi; ổi tàu; hoa ngũ sắc; trâm hôi; tứ thời; tứ quý.
Tên khoa học: Lantana camara L. Đây là loài thực vật thuộc họ Verbenaceae (Cỏ roi ngựa).
Đặc điểm tự nhiên
Cây nhỏ mang nhiều cành ngang, có lông và gai ngắn quặp về phía dưới. Lá hình bầu dục, đầu nhọn, mặt xù xì, mép có răng cưa, mặt trên có lông ngắn, cứng, mặt dưới lông mềm hơn, phiến lá dài 3 - 9 cm, rộng 3 - 6 cm, cuống lá ngắn, phía trên cuống có dài.
Hoa không cuống, màu trắng, vàng, vàng cam hay đỏ mọc thành bông hình cầu gần giống như hình đầu. Hoa có lá bắc hình mũi giáo. Đài hình chuông, có hai môi. Tràng hình ống có 4 thùy không đều. Quả hình cầu, màu đỏ nằm trong lá đài, mang hai hạch cứng, xù xì.
Phân bố, thu hái, chế biến
Cây nguồn gốc các nước Trung Mỹ, sau được phổ biến đi khắp các nước vùng Viễn Đông, Mangat, Tân Calêđônia. Tại Tân Calêđônia, cây mọc hoang và phát triển tới mức độ chính phủ ở đây phải ra lệnh triệt hết những cây này dù chỉ giữ một gốc để làm cảnh cũng không được phép.
Tại Việt Nam cây được trồng làm cảnh và mọc dại. Toàn thân cây tỏa ra một mùi đặc biệt, có người ưa nhưng cũng có người không ưa.
Các bộ phận của cây bông ổi được thu hái quanh năm. Dược liệu sau khi đem về được rửa sạch, dùng ngay ở dạng tươi hoặc tích trữ bằng cách phơi hay sấy khô.
Lá và cành được dùng làm thuốc; hái về phơi hay sấy khô.
Cây bông ổi
Bộ phận sử dụng
Lá, hoa và rễ.
Liều lượng & Cách dùng
Dùng ngoài không kể liều lượng. Một số nơi người dân dùng lá cây bông ổi giã nát đắp lên những vết thương, vết loét. Người ta cho rằng lá bông ổi có tính chất sát trùng lên da, cầm máu. Người ta còn dùng đắp nơi rắn cắn và cho vào nồi nước xông chữa cảm mạo, sốt.
Ngày: 10 - 12 g dạng thuốc sắc.