Cà dăm
Tổng quan & Dược lý
Tên gọi, danh pháp
Tên Tiếng Việt: <!--td {border: 1px solid #ccc;}br {mso-data-placement:same-cell;}--> Cà dăm
Tên khác: <!--td {border: 1px solid #ccc;}br {mso-data-placement:same-cell;}--> Chò nhai; răm; râm; xoi; cà dặm;…
Tên khoa học: Anogeissus acuminata (Roxb. ex DC.) Guillaum. et Perr.
Đặc điểm tự nhiên
Cây gỗ lớn, cao 10 – 20 m (lên đến 30m). Thân cây thẳng đứng, phía dưới gốc có bạnh nhỏ; cành mảnh, rủ xuống.
Cây có lá đơn, mọc đối hay gần đối; phiến lá hình mác đến hình mác dạng trứng, dài 5 – 8cm, rộng 2 – 5cm, chóp nhọn, gốc hình nêm rộng, mặt trên màu lục, không có hoặc có ít lông, mặt dưới màu lục nhạt, có lông; gân bên 5 – 7 đôi. Cuống lá ngắn, dài 2 – 6mm.
Hoa rất nhỏ, không cuống, hợp thành cụm hoa hình đầu, mọc ở nách lá; đài hình ống, phía trên có 5 răng; không có cánh hoa; 10 nhị xếp thành 2 vòng; bầu hạ 1 ô, chứa 2 noãn. Quả có cánh, màu xanh nước biển sẫm, mang đài tồn tại; bên trong chứa 1 hạt.
Sinh thái: Cây mọc trong các rừng ẩm thường xanh hoặc nửa xanh rụng lá. Cây ưa sáng, thích hợp với đất cát pha. Cây sinh trưởng nhanh, mạnh mẽ ở nhiều loại đất, có thể mọc được trên đất khô xấu nhưng sẽ chỉ có những dạng cây nhỏ 6 – 9m. Ngoài ra, đây là loại thực vật có khả năng tái sinh chồi mạnh. Thông thường mùa hoa vào khoảng tháng 5 – 7 và ra quả vào tháng 8 – 10.

Cây Cà dăm
Phân bố, thu hái, chế biến
Cây Cà dăm phân bố: Sơn La, Hòa Bình, Bắc Giang, Ninh Bình, Thanh Hóa, Quảng Bình, Quảng Trị, Kon Tum, Gia Lai, Lâm Đồng, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, TP.Hồ Chí Minh, Kiên Giang, Bạc Liêu. Ngoài ra, cà dăm còn phân bố ở Ấn Độ, Mianma, Trung Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan.
Bộ phận sử dụng
Bộ phận dùng là phần vỏ cây - Cortex Anogeissi, ngoài ra, có một số nơi dùng lá của Cà dăm làm dược liệu.
Liều lượng & Cách dùng
Chưa có thông tin.