Thông tin hoạt chất y học

Cà na

Dạng bào chế & Đóng gói:Dược liệu

Tổng quan & Dược lý

Tên gọi, danh pháp

Tên Tiếng Việt: Cà na, Côm cánh ướt, Côm háo ẩm, Cảm lãnh, Bạch lãm.

Tên khác: Elaeocarpus.

Tên khoa học: Elaeocarpus hygrophilus Kurz (E. madopetalus Pierre). Họ Côm - Elaeocarpaceae.

Tên đồng nghĩa: Elaeocarpus glamdulosus Wall. Ex Merr; Elaeocarpus madopetalus Pierre.

Đặc điểm tự nhiên

Cà na là cây gỗ cao từ 10 đến 25 m; thân gỗ có màu trắng, trên phủ nhiều lông nhỏ. Lá Cà na mọc cách, có phiến lá hình trái xoan ngược, mọc so le, dài 7 – 9 cm, rộng 2,5 – 3 cm, đầu tù, thót lại ở trên cuống. Mép lá có răng thưa, rất nhẵn, gần như dai, mặt trên màu xanh bóng, mặt dưới lá có nhiều lông, màu nhạt hơn. Gân lá bên nổi hơi rõ ràng, có 6 đôi, cuống lá dài 1cm, không có lông.

Cụm hoa Cà na thường mọc ở ngọn cành thành chùm, ở nách những lá đã rụng, dài 4 – 7cm, có lông mềm màu bạc. Hoa có cuống dài 3 – 5 mm. Đài hoa có lông, bên ngoài nhẵn, hình mũi mác, dài 5 – 7mm, rộng 2mm; lá đài có lông mềm ngắn màu bạc phủ bên ngoài. Cánh hoa hình bầu dục, dài 5 – 8mm, rộng 3 – 4 mm, nhẵn, không có tuyến, màu trắng đục; cánh hoa xẻ tua thành 18 – 20 dải hình sợi. Hoa có 20 nhị, chỉ nhị ngắn. Bầu nhị hình trứng có phủ một lớp lông màu nâu, có 3 ô. Vòi nhụy có lông ở phần nửa phía dưới, đĩa 5 thùy. Quả hạch hình bầu dục, nhọn ở 2 đầu, dài khoảng 3 – 3,5cm, rộng 1,5 – 2 cm; thịt quả nhẵn, bên trong có 1 hạch cứng.

Sinh thái: Cây mọc dọc theo các rạch suối trong rừng ẩm. Mùa hoa vào tháng 9 đến tháng 3 năm sau, mùa quả từ tháng 7 đến tháng 9. Cà na tái sinh bằng hạt.

cây cà na

Cây Cà na

Phân bố, thu hái, chế biến

Cà na phân bố từ Madagascar ở phía tây qua Ấn Độ, Đông Nam Á, Malaysia, nam Trung Hoa, và Nhật Bản, qua Australia đến New Zealand, Fiji, và Hawaii ở phía đông. Ngoài ra, cà na còn có ở Mianma, Thái Lan, Lào, Campuchia. Các đảo Borneo và New Guinea có mật độ lớn nhất của các loài này.

Ở nước ta, Cà na phân bố từ Khánh Hòa (Vọng Phu), Lâm Đồng (Đà Lạt), Bình Dương, Đồng Nai (Biên Hòa), Long An (Vĩnh Hưng, Tân Hưng, Tân Thạnh, Thạnh Hóa), Tiền Giang (Tân Phước), Đồng Tháp, Bà Rịa Vũng Tàu ra tới Côn Đảo. Quả Cà na được sử dụng làm thực phẩm ở một số nước Đông Nam Á như Thái Lan và Việt Nam. Ở Việt Nam, cây Cà na mọc hoang dại hoặc được trồng ven sông rạch thuộc miền Tây Nam Bộ. Cây Cà na mọc ở dọc các bờ kênh rạch vùng đất phèn Đồng Tháp Mười, chịu được nước ngập mùa nước lũ.

quả cà na

Quả cà na

Cà na là cây gỗ đặc trưng của vùng đất phèn Đồng Tháp Mười, chịu được nước ngập 3 - 6 tháng, mùa khô cạn vẫn xanh tốt. Hiện môi trường sống và điều kiện sinh thái thay đổi nên đất trồng cà na đã bị suy giảm. Cây Cà na đang được đưa vào sách đỏ Việt Nam; khung phân hạng (VU). Biện pháp bảo vệ cây là khuyến khích nhân dân vùng Đồng Tháp Mười trồng ở ven kênh mương và quanh nhà để lấy nguyên liệu làm thuốc và lấy gỗ để sử dụng.

Bộ phận sử dụng

Bộ phận sử dụng cây Cà na thường là vỏ - Vortes Elaeocarpi Hygrophylli, rễ, lá và quả Cà na.

Liều lượng & Cách dùng

Cà na có thể dùng độc vị hoặc kết hợp với các vị thuốc khác, dưới dạng thuốc sắc.

Liều dùng: 3 - 10g mỗi ngày.