Cà phê chè
Tổng quan & Dược lý
Tên gọi, danh pháp
Tên Tiếng Việt: Cà phê chè.
Tên khác: Cà phê Arabica.
Tên khoa học: Coffea arabica L.. Đây là một loài thực vật có hoa trong họ Rubiaceae (Cà phê).
Đặc điểm tự nhiên
Cây Cà phê chè thường thấp, nhỏ, mọc sum suê, màu xanh, cao từ 6 – 10. Cây có cành thon dài, đối xứng. Thân cành hình trụ hoặc hình vuông, phân nhánh nhiều. Lá mọc đối, cuống ngắn 0,4 – 1,2cm, hình oval, nhọn ở hai đầu, rìa lá quăn, mềm và rũ xuống. Mặt lá nhẵn, mặt trên màu xanh thẫm, mặt dưới xanh nhạt hơn.
Hoa mọc nở rộ khoảng từ cuối tháng 2 đến hết tháng 4. Hoa mọc ở kẽ lá, nở tròn bung cánh, màu trắng, nhìn giống hoa cúc. Mùi thơm dịu, thoang thoảng.
Quả hình bầu dục, hơi dẹt, lúc còn non màu xanh, sau chuyển thành vàng với màu đỏ, chứa 2 nhân, có hàm lượng caffein trong hạt là 1 - 2%. Mùa hoa quả kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4.

Cây Cà phê chè
Phân bố, thu hái, chế biến
Chi Coffea L có khoảng gần 100 loài và dưới loài, phân bố rải rác khắp vùng nhiệt đới, nhưng tập trung nhiều nhất ở vùng nhiệt đới của châu Phi.
Hiện nay, có 3 loại giống Cà phê được trồng rộng rãi trên thế giới. Về nguồn gốc phát nguyên của chúng cụ thể như sau:
Cà phê chè (Coffea arabica) từ vùng cao nguyên phía tây – nam, thân và tán nhỏ, lá giống lá chè xanh. Cà phê chè có hai loại: Cà phê moka và Cà phê catimor.
Cà phê vối (Coffea robusta) có nguồn gốc từ vùng xích đạo châu phi từ Guinea đến Uganda, thân gỗ cao đến 10m, lá có nhiều nét giống lá cây vối.
Cà phê mít (Coffea liberica) thân lớn, lá lớn, nhìn từ xa trông như cây mít.
Cà phê chè là cây ưa sáng, sống ở các vùng núi cao ở độ cao từ 1000 - 1500 m. Cà phê chè có thể sinh trưởng phát triển tốt trên nhiều loại đất nhưng tốt nhất vẫn là các loại đất đỏ nâu thuộc nhóm bazan hoặc đất đã được phong hóa từ nham thạch núi lửa.
Cà phê chè thu hoạch sau khi trồng khoảng 3 đến 4 năm. Sau thời gian này cây bắt đầu có hoa, càng về sau lượng hoa quả càng nhiều. Ở Việt Nam những vùng chuyên canh Cà phê tiêu biểu như Đắk Lắk, Lâm Đồng…
Hoa Cà phê chè nở rộ trong khoảng 15 – 20 ngày, thụ phấn chủ yếu nhờ côn trùng, tỷ lệ tự thụ phấn chỉ chiếm khoảng 10%. Hạt cà phê có tỷ lệ nảy mầm cao (đến 95%); khả năng nảy mầm này sẽ giảm đảm sau 3 – 6 tháng. Tuy nhiên, nếu được bảo quản ở nhiệt độ 15°C, tỷ lệ nảy mầm cao có thể duy trì được trong thời gian 15 – 30 tháng sau.

Cà phê Arabica (cà phê chè)
Bộ phận sử dụng
Bộ phận sử dụng được của Cà phê chè là hạt, ngoài ra còn dùng lá.
Liều lượng & Cách dùng
Cách ngâm rượu:
Dùng 200g lá Cà phê chè khô ngâm với 1 lít rượu trắng trên 40°, đựng trong chai thủy tinh đã được khử trùng, cất nơi khô ráo, tránh ánh nắng.
Cách sử dụng: Ngày uống 2 lần, mỗi lần 2ml rượu thuốc pha với nước sôi để nguội, giúp tăng cường sức khỏe, chữa căng thẳng thần kinh, tiêu hóa kém.
Cách hãm thuốc:
Dùng 2 – 3g lá Cà phê chè khô hãm trong một tách nước sôi làm một liều. Ngày uống 4 – 5 liều. Có thể dùng 20g lá khô (30g lá tươi) hãm với 500ml nước sôi, chia 4 – 5 lần để uống trong ngày giúp giảm nhức đầu, tăng tuần hoàn máu, tăng huyết áp, giúp tăng tiết mật và lợi tiểu.
Ngoài ra có thể xoa nhẹ nước hãm thuốc này lên da đầu để tăng cường sự mọc tóc.
Lá tươi hay lá khô đều được dùng làm gia vị trong ẩm thực.