Thông tin hoạt chất y học

Cải củ

Dạng bào chế & Đóng gói:Dược liệu

Tổng quan & Dược lý

Tên gọi, danh pháp

Tên tiếng Việt:  <!--td {border: 1px solid #cccccc;}br {mso-data-placement:same-cell;}--> Cải củ

Tên khác:  <!--td {border: 1px solid #cccccc;}br {mso-data-placement:same-cell;}--> Cải củ; Rau lú bú; bặc căn

Tên khoa học:  <!--td {border: 1px solid #cccccc;}br {mso-data-placement:same-cell;}--> Raphanus sativus L., var. longipinnatus Bail

cây cải củ

Hình ảnh Cải củ

Đặc điểm tự nhiên

Cây nhỏ, sống một năm hay hai năm, cao 15 - 45 cm. Rễ phình to thành củ trụ dài, hình trứng hay hình cầu, không phân nhánh, màu trắng. Thân rất ngắn chỉ khi ra hoa mới vượt lên. Lá mọc so le, hình bầu dục hay hình mác, phiến lá men theo cuống đến tận gốc, đôi khi xẻ thành những tai ngắn, đầu tròn, mép lá có răng cưa tù hoặc chia thùy không đều, uốn lượn, gân hình mạng nổi rõ ở mặt dưới.

Cụm hoa mọc thành chùm, trên một cán dài phân nhánh, mỗi nhánh mang nhiều hoa màu trắng, đôi khi pha tím nhạt, dài có 4 răng thuôn hẹp, tràng có 4 cánh mỏng, nhị 6, 2 cái ngắn, bầu hình trụ.

Quả cải, thắt từng quãng nom như chuỗi hạt, đầu nhọn dài, hạt nhỏ, nhiều màu vàng nhạt hoặc nâu đen.

Mùa hoa từ tháng 4 đến tháng 7. Mùa quả từ tháng 6 đến tháng 7.

Cây này được trồng ở khắp nơi trong nước ta để lấy rễ củ ăn, lá để làm dưa, hạt làm thuốc, từ trước đến nay ta ít thu hoạch để làm thuốc.

Phân bố, thu hái, chế biến

Đến mùa quả chín, hái cả cây, phơi khô, đập lấy hạt, bỏ hết vỏ và tạp chất, phơi khô.

Hạt cải củ hình trứng dẹt, dài chừng 2,5 – 4mm, rộng 2 – 3mm, mặt ngoài màu nâu đỏ hoặc xám nâu. Vỏ hạt mỏng, dòn, nhìn qua kính lúp sẽ thấy các chỗ lõm hình mạng, ở một đầu có tễ. Không mùi vị, có chất dầu hơi cay. Hạt mẫm, chắc, màu nâu đỏ là tốt.

Hạt cải củ: Lấy hạt cải củ, loại sạch tạp chất, rửa sạch phơi khô, khi dùng giã nát.

Hạt cải củ sao: Lấy hạt cải củ sạch, sao nhỏ lửa đến khi hơi phồng và có mùi thơm, lấy ra để nguội, khi dùng giã nát.

Bộ phận sử dụng

Rễ cải củ thu hái vào mùa đông, loại bó thân, rễ, lá, phơi khô.

Hạt chín phơi khô, có thể sao trước khi dùng.

Lá phơi hay sấy khô.

Hạt cải củ hay còn gọi là La Bặc Tử

Hạt cải củ, còn được gọi là la bạc tử

Liều lượng & Cách dùng

Hạt cải củ được dùng chữa ăn không tiêu, sốt, ho, nhiều đờm, hen suyễn, ngực bụng đầy trướng, nôn mửa. Ngày uống 10 - 15g dưới dạng thuốc sắc. Người khí hư không nên dùng.

Củ cải củ hoặc lá cải củ phơi hay sấy khô với liều hàng ngày 10 - 15g được dùng với dạng thuốc sắc để làm thuốc thông tiểu tiện, chữa phù thũng. Củ cải củ còn được dùng chữa nhức đầu và thiên đầu thống (củ cải củ tươi giã, vắt lấy nước cốt, nằm ngửa nhổ vào lỗ mũi) và chữa tiêu chảy (luộc ăn hàng ngày).

Trong y học cố truyền Trung Quốc, nước ép củ cải củ được dùng làm thuốc tăng cường tiêu hóa, làm mạnh dạ dày, lợi mật trong bệnh sỏi mật, long đờm và lợi tiểu. Rượu ngâm hạt và củ cải củ được dùng ngoài nốt tàn nhang. Hạt và củ cải củ dưới dạng thuốc bôi dẻo chữa một số bệnh ngoài da. Liều dùng nước ép củ cải củ uống mỗi lần là 50 - 90g.

Trong y học cổ truyền Ấn Độ, củ cải củ được coi là thuốc làm khỏe khoắn và lọc máu. Những chế phẩm của củ cải củ có tác dụng tốt đối với những rối loạn chức năng gan và túi mật. Trong liệu pháp đồng căn củ cải được dùng trong những bệnh nhức đầu, đau dây thần kinh, mất ngủ và tiêu chảy mãn tính. Củ cải củ cũng được coi là có ích đối với những bệnh về đường tiết niệu, trĩ và đau dạ dày. Một muối chiết từ củ sấy khô và đốt thành tro trắng được dùng trong rối loạn dạ dày.

Củ cải củ có trong thành phần một chế phẩm thuốc trợ tim gồm: Thân rễ gừng, rễ các cây sâm rừng, chè rừng, bạch hoa xà, quả tất bát (Piper longum), quả lựu, táo nhân, dịch ép quả bưởi và một số vị khác. Nước ép lá cải củ tươi dùng để lợi tiểu và nhuận tràng. Hạt cải củ có tác dụng lợi tiêu hóa, long đờm, lợi tiểu và gây trung tiện. Nước sắc hạt được uống trong thời kì kinh nguyệt trong khoảng 5 ngày để tránh thụ thai.

Trong y học dân gian Italia, củ cải củ được dùng chữa ho, giảm đầy hơi và kháng khuẩn. Ở Trung Mỹ, nhân dân dùng củ cải củ làm nước lợi tiểu, hạ sốt, làm ra mồ hôi. Trong y học dân gian Indonesia, lá cải củ vò nát với vôi bột và bôi vào vết đứt để cầm máu.

Bên cạnh công dụng làm thuốc, cải củ được làm rau ăn, thường nấu chín, nhưng cũng có khi ăn sống. Ở một số nước, cải củ được ưa thích vì có vị cay và được coi là có tác dụng làm ăn ngon miệng.