Cam thảo dây
Tổng quan & Dược lý
Tên gọi, danh pháp
Tên tiếng Việt: Cam thảo dây.
Tên gọi khác: Dây cườm cườm, Dây chi chi, Tương tư đằng, Cảm sảo (Tày).
Tên khoa học: Abrus precatorius L.
Họ: Fabaceae (Đậu).
Đặc điểm tự nhiên
Cam thảo dây là một loại dây leo, cành gầy nhỏ, thân có nhiều xơ. Lá kép hình lông chim, cả cuống dài 15 – 24 cm, gồm 8 - 20 đôi lá chét, cuống chung ngắn, cuống lá chét càng ngắn hơn, phiến lá chét hơi hình chữ nhật dài 5 – 20 mm, rộng 3 – 8 mm.
Hoa màu hồng mọc thành chùm nhỏ ở kẽ lá hay đầu cành. Cánh hoa hình cánh bướm. Quả thon dài 5 cm, rộng 12 – 15 mm, dày 7 – 8 mm, mặt có lông ngắn, có từ 3 đến 7 hạt, hình trứng, vỏ rất cứng, bóng, màu đỏ với một điểm đen lớn quanh rễ, rất độc. Toàn cây có vị ngọt.
Phân bố, thu hái, chế biến
Cam thảo dây mọc hoang và được trồng ở khắp nơi. Cây mọc hoang ở vùng rừng núi, nhiều nhất ở vùng ven biển. Tại Hà Nội người ta bán thành từng bó dây và lá cam thảo. Rễ của dây cam thảo ít thấy ở thị trường. Hạt ít thấy bán hơn.
Rễ, thân và lá thu hái vào mùa thu khi cây ra hoa, dùng tươi hoặc khô. Hạt có độc, chỉ dùng ngoài.

Cam thảo dây
Bộ phận sử dụng
Rễ, dây, lá, hạt.
Liều lượng & Cách dùng
Hạt thường dùng ngoài làm thuốc sát trùng: Giã hạt cho nhỏ, đắp lên chỗ đau. Tuy nhiên có độc cần chú ý. Hạt độc, giã đắp ngoài, sát khuẩn, tiêu viêm, làm mụn nhọt chóng vỡ, trị vú sưng đau, tắc tia sữa.
Trước đây người ta hay dùng hạt này chữa bệnh đau mắt hột, đau mắt thường: 3 đến 5 hạt, giã nát ngâm vói 1 lít nước. Ngày nhỏ vào mắt 3 lần thuốc này. Khi mới dùng thuốc gây phản ứng, nhưng sau 48 giờ phản ứng bớt. Sau 1 tuần giác mạc trở lại bình thường. Thuốc để lâu không có tác dụng cho nên dùng đến đâu chế đến đó. Tuy nhiên thuốc có độc, gây phù tấy kết mạc, do đó về sau người ta không dùng nữa.

Hạt Cam thảo dây rất độc