Cát sâm
Tổng quan & Dược lý
Tên gọi, danh pháp
Tên Tiếng Việt: Cát sâm.
Tên gọi khác: Sâm nam; Sâm chèo mèo; Sâm trâu; Sâm chuột; Sâm sắn; Nam sâm; Cát muộn; Sơn liên ngẫu; Ngưu đại lực; Đại lực thự; Kim chung; Đảo điếu kim chung; Độc cước lập; Hang chởn.
Tên khoa học: Millettia speciosa Champ. ex Benth.
Họ: Fabaceae (đậu).
Đặc điểm tự nhiên
Cát sâm là cây nhỏ, thân gỗ, cành non có nhiều lông mềm. Lá kép lông chim, mọc so le, có cuống dài phủ đầy lông, lá chét 7 - 13, thường là 11, hình mũi mác thuôn hoặc bầu dục.
Cụm hoa tận cùng thành chùy, có lông, dài 10 - 20 cm; hoa rất nhiều, màu trắng ngà, lá bắc dạng lá, dài có răng tam giác, mặt ngoài phủ đầy lông; tràng hoa nhẵn ở mặt ngoài, cánh cờ rộng. Quả phủ đầy lông mềm, thắt lại ở các hạt; hạt 4 - 6 có vỏ khá dày màu đen. Mùa hoa quả: Tháng 7 - 12.
Rễ củ hình trụ đều hay hai đầu thuôn nhỏ, được cắt thành đoạn dài 5 cm đến 15 cm, đường kính 1 cm đến 4 cm, có khi bổ dọc thành từng miếng. Mặt ngoài màu vàng nhạt đến vàng nâu, có nhiều vết nhăn dọc và rãnh ngang. Mặt cắt ngang màu trắng ngà, nhiều bột, có những tia ruột như hình nan hoa bánh xe.
Phân bố, thu hái, chế biến
Cát sâm mọc hoang dại ở những vùng đồi núi của nhiều tỉnh miền Bắc nước ta, như Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hà Tây, Hòa Bình.
Chế biến: Một số nơi trồng để lấy củ làm thuốc. Rễ củ đào ở những cây đã trồng được hơn một năm, vào thu đông, rửa sạch, thái mỏng, phơi hay sấy khô. Không phải chế biến gì khác, hoặc tẩm nước gừng hoặc nước mật rồi sao vàng.

Cát sâm được trồng nhiều ở vùng núi phía Bắc nước ta
Bộ phận sử dụng
Người ta thường dùng thân rễ (rễ củ), củ trồng 1 năm, khô ngoài vỏ, trong trắng có ít xơ, nhiều bột thì tốt. Không dùng thứ trên một năm, nhiều xơ, ít bột.
Liều lượng & Cách dùng
Thuốc bổ mát, thường dùng trong những trường hợp suy nhược, ho, sốt khát nước, nhức đầu, tiểu tiện khó khăn, dùng riêng hay phối hợp với nhiều vị thuốc khác dưới dạng sắc. Mỗi ngày dùng 10 - 20 g, có thể dùng tới 40 g.
Đau nhức thấp khớp, đau lưng, viêm gan mãn tính, ho. Ngày uống 40 - 80 g dưới dạng thuốc sắc.
Cách bào chế: (Theo kinh nghiệm Việt Nam)
Đào củ về rửa sạch, thái lát hoặc chẻ đôi ra phơi khô. Khi dùng thứ thái lát khô rồi thì dùng sống hoặc tẩm nước gừng, hoặc tẩm mật sao qua dùng. Thứ chẻ đôi khi dùng rửa qua nước (nếu cần) ủ cho mềm thấu, thái lát phơi khô, dùng sống hoặc dùng chín như trên.