cây dong
Tổng quan & Dược lý
Tên gọi, danh pháp
Tên Tiếng Việt: Cây dong
Tên khác: Cây dong, cây lùn, toong chinh (tiếng Thái).
Tên khoa học: Phrynium parviflorum Roxb; Họ: Hoàng tinh (hoặc họ Dong) Marantacea.
Đặc điểm tự nhiên
Theo tác giả Đỗ Tất Lợi, cây dong là cây cỏ cao khoảng 1 mét. Lá dong to có hình trứng, lá dạng thuôn dài và đầu nhọn, nhẵn, kích thước là dài đến 35cm, rộng 12cm, cuống dài đến 22cm, trong đó 2 - 3 cm phía trên cuống nhẵn. Cụm hoa hình đầu, không cuống, nằm trong bẹ của lá, đường kính khoảng 4 - 5cm, có khoảng 4 - 5 hoa. Cánh hoa màu trắng hay đỏ. Quả từ cây dong cũng có hình trứng dài 11mm, có một phía cong nhiều hơn phía còn lại. Hạt thuôn dài, lớp áo hạt gồm 2 phiến. Mùa hoa của cây từ tháng 4 đến tháng 6 trong năm.
Theo sách Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, cây Dong là cây thân thảo, sống lâu năm, cao từ 0,5 đến 1,2m. Lá to, mọc từ gốc – không có thân, hình trái xoan - mũi mác hoặc mác thuôn, dài 30 - 40cm, rộng 10 - 15cm, gốc tù, đầu nhọn, mép nguyên lượn sóng, hai mặt nhẵn nhưng mặt trên sẫm bóng, cuống lá dài khoảng 20cm, có bẹ nhẵn. Cụm hoa mọc ở giữa cuống lá thành hình chùy hoặc đầu tròn có đường kính khoảng 4 - 5 cm, không cuống.
Hoa nhiều màu đỏ, lá bắc thuôn hình vảy, đài có 3 răng nhỏ, đều. Tràng hoa có 3 cánh, thuôn nhọn. Nhị có thùy dạng cánh hoa. Nhụy lép, có dạng môi hoặc bản mỏng màu trắng, bầu có lông. Quả hình trứng thuôn, hạt có áo mỏng. Tổng hợp thông tin từ 2 nguồn trên ta có thông tin chi tiết về loại cây này.

Lá dong thường được sử dụng để gói bánh dịp Tết
Cây dong được trồng bằng thân rễ, giống như sả. Đất trồng thường được tận dụng là đất ở gần bờ ao, hay góc vườn ẩm ướt được che bóng mát. Chỉ cần cuốc xới đủ để thân rễ đứng vững. Cứ khoảng từ 40 đến 50cm trồng một cá thể cây. Cây không cần chăm sóc nhiều, ít có sâu bệnh, đẻ nhánh rất nhanh. Chỉ một thời gian ngắn, các nhánh của thân rễ đã xuất hiện và lan nhanh phủ kín đất. Khi trồng ít cần phải bón phân. Muốn cho lá to, dài, cần bón thêm phân, chất hữu cơ dinh dưỡng.
Ở Việt Nam, cây Dong là một loại cây quen thuộc chủ yếu là bánh chưng. Vào mùa tết, lá dong có thể được khai thác đến hàng ngàn tấn. Lá còn có thể được dùng làm thuốc, có thể thu hái quanh năm, dùng tươi.
Phân bố, thu hái, chế biến
Phân bố: Phrynium là một chi nhỏ, ở Châu Á có khoảng 10 loài, cụ thể ở Việt Nam có 5 loài. Cây lá dong phân bố rộng rãi ở các nước vùng Đông Nam Á. Ngoài ra còn thấy mọc ở Ấn Độ, Indonesia, Trung Quốc. Cây mọc hoang ở nhiều nơi ẩm ướt và trong rừng. Tuy nhiên, cây chỉ phân bố ở các tỉnh miền núi, gần đây đã có nhiều người mang xuống trồng ở vùng đồng bằng hoặc trung du. Lá dong là cây đặc biệt ưa bóng và ưa ẩm. Cây thường mọc thành quần thể dày đặc dọc theo bờ các khe suối, dưới tán rừng kín thường xanh. Độ cao phân bố từ vài trăm đến 1100m. Cây có hệ thống thân rễ ngầm phát triển. Hằng năm, từ thân rễ mọc ra nhiều chồi nhánh, đan xen chằng chịt dưới mặt đất, lấn át các loài cây cỏ khác.
Thu hái: Thu hái lá dong tươi quanh năm
Chế biến: Lá dong non nhúng vào rượu hoặc ngâm trong nước đường (một phần đường, ba phần nước).
Bộ phận sử dụng
Lá tươi cây dong là bộ phận dùng làm thuốc.

Lá dong tươi được dùng làm thuốc
Liều lượng & Cách dùng
Liều dùng: Liều dùng thông thường khoảng 100 – 200g/ ngày (dược liệu tươi).
Cách dùng: Lá dong sử dụng để chữa bệnh bằng cách giã nát đắp ngoài, vắt lấy nước hoặc sắc uống.