Cây lá gan
Tổng quan & Dược lý
Tên gọi, danh pháp
Tên Tiếng Việt: Cây lá gan.
Tên khác: Vọng cách, cây cách, cách núi, bọng cách, headache tree (Anh), bois de boue (Pháp).
Tên khoa học: Premna corymbosa Rottl. ex Willd., premna integrifolia Roxb., premna obtusifolia R. Br.. Thuộc họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae).

Cây lá gan trong tự nhiên
Đặc điểm tự nhiên
Cây lá gan là cây nhỡ, cao khoảng 5 đến 7m. Cành non có hình dạng vuông, đôi khi có lông mịn và gai, cành già nhẵn, có rãnh và lỗ bì, màu nâu đỏ. Lá mọc đối nhau, hình trái xoan, dài khoảng từ 14 đến 16cm, rộng khoảng từ 10 đến 12cm, gốc hơi hình tim hay tròn, đầu có mũi nhọn ngắn hay tù, mặt trên nhẵn bóng, gân lá hằn rõ, mặt dưới lá màu nhạt hơn, có lông mịn trên các gân, mép lá nguyên hoặc có khía răng ở đầu lá. Khi vò lá ra có mùi thơm như chanh.
Cụm hoa của cây lá gan mọc ở đầu cành thành ngù dài khoảng từ 10 đến 18cm, có lông mịn, lá bắc nhỏ có dạng lá, hoa màu hơi xanh lục hay màu trắng, đài có lông và tuyến, chia 2 môi, môi dưới nguyên hoặc có khoảng 2 đến 3 răng rất nhỏ, môi trên xẻ 2 thuỳ hoặc nguyên, tràng có lông ở mặt ngoài, ống có hình trụ, chia 2 môi, môi dưới có 3 thuỳ tròn, môi trên có 2 thuỳ gần bằng nhau. Nhị 4, chỉ nhị đính ở họng tràng, hơi thò ra ngoài, bầu nhẵn.
Quả hạch, hình trứng hoặc hình cầu, có màu đen.
Mùa hoa quả: Tháng 5 đến tháng 8.
Phân bố, thu hái, chế biến
Chi Premna L. có khoảng 200 loài trên thế giới, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Phi, châu Á và châu Đại Dương. Ở Việt Nam có 15 loài, trong đó 4 - 5 loài được dùng làm thuốc. Cây lá gan phân bố từ Ấn Độ đến Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam. Ở Việt Nam, cây lá gan là loài cây tương đối quen thuộc đối với người dân ở vùng đồng bằng và trung du. Cây phân bố rải rác từ Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Hải Dương đến Nam Bộ và đảo Phú Quốc.
Cây lá gan là cây bụi ưa sáng, ưa ẩm nhưng cũng có thể hơi chịu hạn, thường mọc lẫn với nhiều loại cây bụi khác ngay ở quanh làng, dọc theo các bờ kênh mương, đồi cây bụi và bờ nương rẫy. Cây thường xanh do mọc chồi và ra lá non gần như quanh năm. Tuy nhiên, mùa sinh trưởng mạnh lại vào vụ xuân - hè. Cây lá gan ra hoa kết quả nhiều, tái sinh tự nhiên chủ yếu từ hạt. Cây còn có khả năng tái sinh chồi khoẻ sau khi bị chặt đốn. Ở một số địa phương, nhân dân còn trồng cây lá gan ở vườn nhà, để lấy lá non làm rau gia vị.

Cây lá gan còn được sử dụng làm rau trong ẩm thực
Bộ phận sử dụng
Bộ phận sử dụng được của cây lá gan là toàn bộ cây, rễ, vỏ rễ, thân và lá.
Liều lượng & Cách dùng
Lá cây lá gan để chữa lỵ, dùng lá tươi (30 - 40g), rửa sạch, vò nát, hoà với ít nước đun sôi để nguội, vắt lấy nước cốt, thêm chút đường, uống. Trẻ em dùng nửa liều. Có thể dùng lá phơi khô hay sao vàng sắc uống.
Lá cây lá gan còn được dùng chữa phạm phòng, phát sốt, viêm gan, co thắt sau khi giao hợp, với liều 30 - 40g, sắc uống.
Rễ cây lá gan chữa đau bụng, ăn không tiêu, sốt, với liều 20g, sắc uống.

Rễ cây lá gan được dùng để chữa đau bụng, ăn không tiêu