Thông tin hoạt chất y học

Cây thạch đen

Dạng bào chế & Đóng gói:Dược liệu

Tổng quan & Dược lý

Tên gọi, danh pháp

Tên tiếng Việt: Cây thạch đen.

Tên khác: Cây xương sán, lương phấn thảo, thủy cẩm, sương sáo, tiên nhân đông, xương sáo, tiên nhân thảo, tiên thảo.

Tên khoa học: Mesona chinensis Benth., thuộc họ Hoa môi Lamiaceae (Labiatae).

Đặc điểm tự nhiên

Cây nhỏ cao 40 – 60 cm, lá mọc đối, hai mặt lá đều có lông, mép lá có răng cưa, dài 2 – 4 cm. Hoa màu hồng nhạt, quả nhỏ hình trứng.

Hoa mọc thành cụm ở ngọn, chùm hoa dài khoảng 10 – 13 cm. Chùm hoa dài, được phủ lông mịn và có lá bắc màu hồng. Tràng hoa có màu hồng nhạt hoặc màu trắng, môi dưới to, môi trên chia làm 3 thùy. Quả thuôn, bế nhẵn, chiều dài khoảng 0.6 – 0.8 mm.

Sương sáo ra hoa và quả vào mùa thu – đông.

Phân bố, thu hái, chế biến

Cây mọc hoang dại và được trồng nhiều ở vùng An Giang (Châu Đốc) để làm thuốc và nấu thạch đen dùng uống cho mát.

Thu hái toàn cây trừ rễ. Mùa thu hoạch gần như quanh năm nhưng chủ yếu vào mùa mưa.

Ngoài ra cây còn phân bố ở vùng Cao Bằng (Nguyên Bình), Lâm Đồng (Đà Lạt). Cây mọc tự nhiên ở nơi sáng và ẩm.

Bộ phận sử dụng

Thu hoạch toàn cây trừ bỏ rễ.

Liều lượng & Cách dùng

Cách chế biến như sau: Thân lá sương sáo xay thành bột, thêm nước vào nấu kỹ, lọc lấy nước. Thêm ít bột sắn hay bột gạo vào, nấu cho sôi lại, để nguội được một thứ keo đặc nhưng mềm, màu đen gọi là lương phấn để cho mau đông và dòn có khi người nấu còn thêm một ít nước tro (cacbonat kali) hay hàn the (borax).

Khi ăn người ta thái miếng thạch đen này cho vào nước đường và nhỏ nước thơm.

Còn dùng làm thuốc chữa cảm mạo, viêm khớp cấp, viêm thận, huyếp áp cao, đái đường. Ngày dùng 15 – 20 g dưới dạng thuốc sắc.