Chìa vôi
Tổng quan & Dược lý
Tên gọi, danh pháp
Tên tiếng việt: Chìa vôi.
Tên khác: Bạch phấn đằng, Đậu sương.
Tên khoa học: Cissus triloba (Lour.) Merr. (C. modecoides Planch.) thuộc họ Nho (Vitaceae).
Đặc điểm tự nhiên
Cây nhỏ, mọc leo, dài 2 – 4m; thân tròn nhẵn, gốc có củ, toàn thân phủ phấn trắng (nên có tên là bạch đằng phấn).
Tua cuốn hình sợi đơn. Lá đơn, hình dạng thay đổi, thường xẻ thùy chân vịt, phía cuống hình tim, dài và rộng đến 6 – 8cm, những lá phía gốc hình mác gần như nguyên, các lá phía trên chia 5 – 7 thùy dài gần bằng nhau, mép hơi có răng cưa. Hoa màu vàng nhạt, mọc thành ngù đối diện với lá, nhưng ngắn hơn lá và có cuống. Quả nang tròn, 5 – 6mm, khi chín màu đen. Ở C. modecoides var. modeccoides, thùy lá rất sâu; ở C. modecoides var. subintegra Gagnep, thùy lá rất cạn.
Cây mọc hoang ở rừng thưa, ven suối, rừng ẩm có ánh sáng,cũng gặp ở bờ bụi, hàng rào. Chìa vôi cũng được trồng ở nhiều nơi vùng đồng bằng. Cây ra hoa tháng 4 – 8, có quả tháng 5 – 10.

Cây Chìa vôi
Phân bố, thu hái, chế biến
Ở nước ta, cây Chìa vôi mọc từ Lào Cai, Thái Nguyên, Ninh bình vào Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Ninh Thuận và thành phố Hồ Chí Minh. Cây có phân bố ở Ấn Độ, Trung Quốc, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Australia.
Rễ củ và dây thu hái quanh năm, nhưng tốt nhất vào mùa khô. Củ tròn, to bằng quả trứng gà, mấy củ dính liền với gốc cây, hai đầu củ hơi nhọn, ngoài đen, trong trắng. Đào về, rửa sạch, ngâm một đêm cho mềm, thái mỏng, phơi khô. Khi dùng đem củ ngâm nước vo gạo, còn dây thì cắt ngắn, tẩm rượu sao hoặc tán bột.

Chìa vôi khô
Bộ phận sử dụng
Rễ củ, dây lá.
Liều lượng & Cách dùng
Ngày dùng 10 – 30g dược liệu, sắc uống, có thể ngâm rượu uống. Dùng ngoài không kể liều lượng.