Thông tin hoạt chất y học

Chùm ruột

Dạng bào chế & Đóng gói:Dược liệu

Tổng quan & Dược lý

Tên gọi, danh pháp

Tên tiếng Việt: Chùm ruột.

Tên gọi khác: Tầm ruột, mác nhôm (Tày).

Tên khoa học: Phyllanthus acidus (L.) Skeels

Tên đồng nghĩa: Averrhoa acida L.

Họ: Euphorbiaceae (Thầu dầu).

Đặc điểm tự nhiên

Chùm ruột thuộc loại cây nhỏ, cao 3 – 5 m, có thân nhẵn. Cành non có màu lục nhạt, cành già chuyển sang màu xám mang nhiều vết sẹo do lá rụng để lại. Lá kép mọc so le và có cuống dài; lá chét thì mỏng, gốc tròn, chóp nhọn. Hoa nhỏ mọc thành xim, dài khoảng 4 - 7 cm. Hoa có màu đỏ, mọc ở nách lá đã rụng. Quả mọng có khía, khi chín quả có màu vàng nhạt, vị chua, ngọt nhạt. Mùa hoa tháng 3 - tháng 5, mùa quả tháng 6 - tháng 8.

Chùm ruột 1

Trái chùm ruột

Phân bố, thu hái, chế biến

Chùm ruột là cây của Mỹ châu nhiệt đới, được trồng để lấy quả. Có thể thu hái lá, vỏ rễ và vỏ thân quanh năm. Quả được thu hái lúc chưa chín.

Bộ phận sử dụng

Lá, quả, vỏ thân và rễ là những bộ phận được dùng của cây chùm ruột.

Liều lượng & Cách dùng

Quả thường được dùng để ăn tươi hoặc nấu canh ăn cho mát.

Lá giã nhỏ với hồ tiêu để đắp lên các chỗ bị đau.

Vỏ phơi khô, tán nhỏ, ngâm với rượu trắng (200g trong 1 lít) trong 10 ngày, sau đó đem lọc lấy rượu, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 2 thìa canh. Rượu này nhỏ vào tai hôi thối có thể làm hết mủ; thấm bông bôi ghẻ, loét, giúp vết thương mau lành.

Bột vỏ chùm ruột đem ngâm giấm, uống hết bệnh trĩ. Ngoài ra, còn có thể nấu cao uống mỗi lần 1/2 thìa cà phê với nước chín trị họng mọc nấm, họng sưng, lỗ mũi lồi thịt. Có thể phối hợp với vỏ Vông đồng lượng gấp đôi, rồi hoà rượu trắng uống mỗi ngày 2 thìa cà phê, để trị các bệnh về tim. Vỏ rễ và rễ có độc, chỉ nên dùng ngoài, không được uống.

Chùm ruột

Quả chùm ruột thường dùng để ăn tươi hoặc làm mứt