Cinnamaldehyde
Tổng quan & Dược lý
Cinnamaldehyde là gì?
Cinnamaldehyde còn được gọi là Aldehyde cinnamic; 3-phenyl-2-propan; Anđehit cinnamyl; Phenylalacrolein; quế chi và trans-cinnamaldehyde. Đây là thành phần có trong vỏ của cây quế (Cinnamomum zeylanicum), xuất xứ từ Sri Lanka và Ấn Độ và được trồng ở Brazil, Jamaica và Mauritius. Cinnamaldehyde cũng được tìm thấy trong các thành viên khác của loài Cinnamomum bao gồm cả cây cassia và long não.

Cinnamaldehyde là thành phần chính của cây quế
Có công thức hóa học là C6H5CH = CHCHO, Cinnamaldehyde là một hợp chất hữu cơ xuất hiện tự nhiên chủ yếu là đồng phân trans (E), mang lại hương vị và mùi cho quế.
Đây là một Phenylpropanoid được tổng hợp tự nhiên bằng con đường sinh tổng hợp Shikimat, tồn tại dưới dạng chất lỏng nhớt, màu vàng nhạt. Tinh dầu của vỏ quế chứa khoảng 90% là Cinnamaldehyde.
Công thức phân tử của Cinnamaldehyde được xác định vào năm 1834 bởi các nhà hóa học người Pháp Jean Baptiste André Dumas (1800–1884) và Eugène Melchior Péligot (1811–1890) và mặc dù công thức cấu trúc của nó chỉ được giải mã vào năm 1866 bởi nhà hóa học người Đức Emil Erlenmeyer (1825– Năm 1909).
Điều chế sản xuất
Có nhiều cách để điều chế Cinnamaldehyde. Thành phần này được điều chế thương mại bằng cách xử lý vỏ cây Cinnamomum zeylanicum với hơi nước. Anđehit hòa tan trong hơi nước, sau đó Cinnamaldehyde được chiết xuất khi hơi nước nguội đi và ngưng tụ lại để tạo thành nước lạnh, trong đó hợp chất ít hòa tan hơn nhiều.
Cinnamaldehyde cũng có thể được tổng hợp bằng cách cho phản ứng giữa Benzaldehyde (C6H5CHO) với Acetaldehyde (CH3CHO). Hai hợp chất ngưng tụ sau khi loại bỏ nước để tạo thành Cinnamaldhyde.
Năm 1834, Cinnamaldehyde được phân lập từ tinh dầu quế bởi Jean-Baptiste Dumas và Eugène-Melchior Péligot và được nhà hóa học người Ý Luigi Chiozza tổng hợp trong phòng thí nghiệm vào năm 1854.
Tinh dầu quế được chiết xuất từ vỏ cây quế với thành phần chính là Cinnamaldehyde. Có hai cách để chiết xuất được tinh dầu quế từ vỏ quế: Đó là công nghệ chưng cất hơi nước và chiết xuất qua dung môi. Nhưng để đạt thành phần Cinnamaldehyde lên đến 90% thì phải sử dụng công nghệ chưng cất hơi nước, còn với công nghệ chiết xuất qua dung môi chỉ đạt được 62 % đến 73 % tỉ lệ Cinnamaldehyde.
Cơ chế hoạt động
Nhiều dẫn xuất của Cinnamaldehyde có ích về mặt thương mại. Rượu Dihydrocinnamyl, xuất hiện tự nhiên nhưng được sản xuất bằng cách hydro hóa gấp đôi Cinnamaldehyd, được sử dụng để tạo ra mùi thơm của lục bình và hoa cà. Rượu Cinnamyl cũng tương tự và có mùi của hoa cà, có thể được sản xuất bắt đầu từ Cinnamaldehyd. Dihydrocinnamaldehyd được tạo ra bởi quá trình hydro hóa chọn lọc của tiểu đơn vị kiềm.
Liều lượng & Cách dùng
Thành phần chính của tinh dầu quế Cinnamaldehyde được dùng ở tỷ lệ lên đến 85,3% - 90,5% sẽ có hiệu quả ức chế sự phát triển của một loạt các vi sinh vật như vi khuẩn, nấm mốc và nấm men cũng như có khả năng ức chế sự sản sinh độc tố của vi sinh vật.
Tác dụng phụ
Cinnamaldehyd được FDA chấp thuận cho sử dụng trong các xét nghiệm vá Epicutallow dị ứng được chỉ định trong chẩn đoán viêm da tiếp xúc dị ứng ở người từ 6 tuổi trở lên.
Ngoài việc sử dụng như một phương thuốc thảo dược, công dụng chính của Cinnamaldehyde là một chất phụ gia thực phẩm để tăng hương vị và mùi cho các sản phẩm thực phẩm. Cinnamaldehyde được sử dụng phổ biến nhất trong các sản phẩm như bánh, kẹo cao su, sô cô la, dầu quế tổng hợp, đồ uống cola, kem, nước giải khát và rượu Vermouth. Hợp chất này cũng được thêm vào một số mỹ phẩm và sản phẩm chăm sóc tại nhà để cải thiện mùi của chúng. Các sản phẩm đó bao gồm chất khử mùi, chất tẩy rửa, nước súc miệng, nước hoa, băng vệ sinh, xà phòng và thuốc đánh răng.
Cinnamaldehyde ở một mức độ phù hợp được sử dụng trong nông nghiệp như một loại thuốc trừ sâu và diệt nấm.