Cỏ Chân Vịt
Tổng quan & Dược lý
Tên gọi, danh pháp
Tên tiếng Việt: Cỏ chân vịt.
Tên khác: Duyên giao; Bọ xít; Cây trứng vịt; Cây thủy hảo; Cây cỏ chửa; Cỏ thia lịa, Cỏ chân vịt ấn.
Tên khoa học: Sphaeranthus indicus L. Họ: Asteraceae (Cúc).
Đặc điểm tự nhiên
Cây thảo nhẵn, mọc đứng, thường rất sum sê, cao từ 0,5m đến 1m. Thân cành có mặt cắt tam giác, có cạnh nhăn nheo do đường men của phiến lá. Lá mọc so le, hình bầu dục hay thuôn hình mác, dài 2,5cm đến 7cm, rộng từ 1,5cm đến 2cm, gốc bè ôm thân, đầu lá tù, mép khía răng nhỏ hoặc còn nguyên.
Các cụm hoa mọc đối diện lá thành đầu kép có hình dạng cầu hoặc hình trứng, màu hồng hoặc tím nhạt, dài từ 1cm đến 3cm; có cánh ở cuống hoa; hoa cái nhiều có tràng hẹp, hình ống 3 răng; hoa lưỡng tính có từ 1 đến 3 cái ở giữa, tràng hoa hình trứng ngược có 5 thùy và nhị 5 có tai nhọn.
Cỏ chân vịt có quả bế, dạng trụ, có khía rãnh, quả có lông.
Mùa ra hoa - quả: Khoảng tháng 12 đến tháng 2 năm sau.

Cây Cỏ chân vịt
Phân bố, thu hái, chế biến
Cỏ chân vịt, một loại cây thảo thường sống 1 năm, ưa sáng, mọc ở trên những vùng đất ẩm còn tương đối màu mỡ ở các ruộng trồng màu trong thung lũng và gần các nguồn nước. Cây con được mọc từ hạt, hay xuất hiện vào khoảng cuối mùa xuân. Cây phân nhánh sớm và tăng trưởng nhanh trong mùa hè. Đến mùa thu, khi quả đã già, cây tàn lụi. Hạt giống phát tán quanh cây mẹ, tồn tại qua đông, đến mùa xuân năm sau nảy mầm và bắt đầu một vòng đời mới.
Bộ phận sử dụng
Cả cây trừ rễ. Thu hái vào thời điểm cây chưa có hoa. Phơi hoặc sấy khô.
Liều lượng & Cách dùng
Lá non cỏ chân vịt luộc ăn dùng cho phụ nữ mới đẻ nhanh hồi phục lại sức. Cả cây phơi khô, tán bột, rây mịn dùng chữa ho, ho gió, ho có đờm, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần một thìa cà phê.
Ở Ấn Độ, Rễ và hạt Cỏ chân vịt được dùng làm thuốc trị giun ở dạng bột với liều lượng từ 2 g đến 8 g. Cây tươi giã nát cùng với với bơ, bột và đường thành một loại bánh ngừa quá trình lão hóa tóc và rụng tóc. Hạt được chiên trong dầu vừng hoặc rễ dùng nấu nước uống được xem như là thuốc kích dục mạnh. Nước sắc của cây cũng dùng chữa rối loạn đường tiết niệu. Hoa được dùng nhai, nuốt với mục đích điều trị viêm màng kết.