Cỏ lào
Tổng quan & Dược lý
Tên gọi, danh pháp
Tên tiếng Việt: Cỏ lào.
Tên khác: <!--td {border: 1px solid #ccc;}br {mso-data-placement:same-cell;}--> Cây bớp bớp; Bù xích; Yên bạch; Cây Cộng sản.
Tên khoa học: Eupatorium odoratum L.
Tên đồng nghĩa: Chromolaena odorata (L.) R. King & H. Robins. Họ: Asteraceae (Cúc).
Đặc điểm tự nhiên
Cây nhỏ, cao 1 - 2m, mọc thành bụi, phân nhiều cành nằm ngang. Thân tròn, màu rất nhạt, có rãnh và lông nhỏ mịn.
Lá mọc đối, hình gần tam giác, dài 6 - 9cm, rộng 2 - 4cm, gốc thuôn vát, đầu nhọn, mép có răng cưa to, vò ra có mùi hăng hắc, hai mặt lá cùng màu có lông mịn, dày hơn mặt dưới, gân chính 3; cuống lá dài 1 - 2cm.
Cụm hoa mọc ở đầu cành thành ngù kép, gồm nhiều hoa có mùi thơm, tụ hợp thành hình đầu dài khoảng 1cm, màu vàng lục, lá bắc xếp thành 3 - 4 hàng, hơi có lông; tràng hoa loe dần từ gốc.
Quả bế hình thoi, có lông ở 5 cạnh.
Mùa hoa quả: Tháng 1 - 3.

Hình ảnh cây Cỏ lào
Phân bố, thu hái, chế biến
Cây có nguồn gốc ở đảo Angti, được truyền bá vào nước ta, gặp nhiều ở các vùng đồi núi khắp nơi. Cỏ lào mọc rất khỏe, phát triển nhanh trong mùa mưa. Nó có khả năng tái sinh rất mạnh, cho năng suất cao 20 - 30 tấn/ha. Có thể thu hái lá và toàn cây quanh năm. Thường dùng tươi.
Bộ phận sử dụng
Toàn cây, chủ yếu là lá – Herba seu Folium Chromolaenae.
Liều lượng & Cách dùng
Dùng tươi hoặc khô, uống hay đắp ngoài đều được.
Lá pha dưới dạng sirô từ nước hãm (lá non rửa sạch, vò nát, hãm trong nước nóng với tỉ lệ 5g lá lấy 15ml nước hãm, sau đó đem kết hợp với đường theo tỉ lệ 500ml nước hãm hòa với nước pha 900g đường đã đun sôi) dùng chữa lỵ và tiêu chảy.
Nước sắc dùng đường uống để trị đau nhức xương. Trị ghẻ bằng cách lấy lá cỏ lào non nấu nước tắm, khi tắm dùng bã chà xát vào mụn ghẻ khoảng 5 đến 6 ngày là khỏi. Vò hay giã lá tươi đắp lên vết thương để cầm máu.

Lá Cỏ lào pha dưới dạng sirô từ nước hãm

