Thông tin hoạt chất y học

Cỏ may

Dạng bào chế & Đóng gói:Dược liệu

Tổng quan & Dược lý

Tên gọi, danh pháp

Tên tiếng Việt: Cỏ may.

Tên khác: Cây bông cỏ; Châm thảo; Thảo tử hoa; Thúy hồ điệp; Trúc tiết thảo; Thúy nga mi; Đát trúc hoa; Trúc thái; Nhả khoác; Co nhả khua.

Tên khoa học: Chrysopogon aciculatus (Retz.) Trin.

Đặc điểm tự nhiên

Cây Cỏ may là một loại cỏ sống lâu năm, thân rễ cứng mọc bò. Thân bò lan trên mặt đất, mọc đến đâu bén rễ đến đó: những thân mọc thẳng lên cao 20 - 50 cm, có nhi u đốt, đốt phía gốc ngắn hơn phía trên.

Lá mọc so le, lá phía dưới mọc mau, lá phía trên mọc thưa hơn. Phiến lá hẹp dài 2 - 10cm, rộng 3 - 5mm, đầu nhọn, phía cuống tròn, nhẵn. Cụm hoa mọc thành chuỳ dài 5 - 10cm, màu tím than, có những nhánh mọc vòng mang hoa mọc thành bông dài 8mm. Quả chín có thể móc vào quần áo khi người ta đi qua do đó có tên Cỏ may. Và cũng do hình thức này, cây lan từ vùng này sang vùng khác.

Cây Cỏ may

Cây Cỏ may

Phân bố, thu hái, chế biến

Cỏ may mọc hoang ở khắp nơi trong nước ta. Còn mọc ở các nước khác vùng châu Á như Ấn Độ, Thái Lan, Miến Điện, Nam Trung Quốc.

Bộ phận sử dụng

Cả cây hoặc quả.

Liều lượng & Cách dùng

Trong đời sống, cây được dùng để chữa bệnh da vàng, mắt vàng, bệnh về gan như sau: Toàn cây Cỏ may cả rễ rửa sạch, thái nhỏ sao vàng, 300g, nước rửa nửa lít, sắc còn 250ml, chia làm nhiều lần uống trong ngày thay nước uống. Thường sau 4 - 5 ngày thấy có kết quả rõ rệt.

Tùy thuộc vào mục đích sử dụng và từng bài thuốc mà có thể dùng dược liệu với nhiều cách khác nhau. Vị thuốc Cỏ may thường dùng tươi hoặc sắc thuốc thang.

Liều lượng khuyến cáo là khoảng 20 – 60g/ngày. Có thể điều chỉnh cho phù hợp với từng bài thuốc và mục đích sử dụng.