Củ đậu
Tổng quan & Dược lý
Tên gọi, danh pháp của củ đậu
*Tên Tiếng Việt:* Củ đậu
*Tên khác:* Củ sắn
*Tên khoa học:* Pachyrhizus erosus (L.) Urb, (Dolichos erosus L.) thuộc họ Fabaceae (Đậu)
Đặc điểm tự nhiên của củ đậu
Cây thảo mọc leo, sống một năm. Rễ củ mập, hình con quay, có khi hơi dẹt, vỏ ngoài màu vàng bẩn. Thân hóa gỗ, cành có lông thưa và rụng sớm. Lá kép gồm 3 lá chét rộng, nhẵn, dài 4 – 8 cm, rộng 4 – 12 cm, lá chét bên lệch, gân gốc 3, gân phụ thành mạng, mép hơi khía trăng; cuống lá kép dài 7 -15 cm, lá kèm rụng sớm.
Cụm hoa mọc ở kẽ lá thành chùm; lá bắc nhỏ; hoa mọc dày đặc ở ngọn, màu đỏ tía hoặc tím nhạt; dài , hoa hình chuông, có long, có 4 răng; cánh hoa có móng dài, cánh cờ hình mắt chim, có 2 tai nhỏ, cánh môi gần hình liềm; nhị 2 bó; bầu có lông.
Quả hơi có lông, không cuống, dài 12 cm, rộng 12 mm, ở khe các hạt hơi lõm xuống. Trong quả có tới 9 hạt, đường kính chừng 7 mm, hình thấu kính. Hạt cứng khó giã nhỏ.
Mùa hoa: Tháng 6 – 8; mùa quả: Tháng 9 – 11.

Hình ảnh Cây củ đậu
Phân bố, thu hái, chế biến
Củ đậu có nguồn gốc ở Mexico và vùng Trung Mỹ, sau được trồng rộng rãi khắp các vùng nhiệt đới ở Nam và Bắc bán cầu. Ở Châu Á, cây trồng nhiều nhất ở Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Indonesia, Philippin, Ấn Độ và Trung Quốc.
Củ đậu thích nghi với điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm. Cây ra hoa quả nhiều ngay trong năm đầu tiên, rụng lá và tàn lụi vào mùa đông. Tuy nhiên phần củ (rễ củ) dưới mặt đất có thể sẽ mọc chồi vào mùa xuân năm sau.
Mùa thu hoạch hạt: Tháng 11 - 12.
Bộ phận sử dụng
Củ, hạt và lá.

Củ đậu được ứng dụng làm thực phẩm phổ biến
Liều lượng & Cách dùng
Rễ củ đậu không có độc nên có thể dùng với liều lượng lớn.