Địa liền (Thân rễ)
Tổng quan & Dược lý
Tên gọi, danh pháp
Tên tiếng Việt: <!--td {border: 1px solid #ccc;}br {mso-data-placement:same-cell;}--> Địa liền (Thân rễ).
Tên khác: <!--td {border: 1px solid #ccc;}br {mso-data-placement:same-cell;}--> Sơn nại; Tam nại; Sa khương.
Tên khoa học: Kaempferia galanga L.
Họ: Zingiberaceae (Gừng).
Đặc điểm tự nhiên
Cây thân thảo, sống lâu năm, không thân. Thân rễ có nhiều củ nhỏ, củ hình trứng mọc liên tiếp nhau, có rất nhiều vân ngang.
Có 2 - 3 cái lá hình trứng gần tròn, mặt trên nhẵn bóng, mặt dưới có lông mịn, mép mỏng màu đỏ, hai mặc có nhiều chấm hình tròn, xòe rộng sát mặt đất, đầu tù rồi thuôn nhọn, gốc thuôn hẹp thành một cuống ngắn rộng có rãnh, phiến lá dài 8 - 10cm, rộng 6 - 7cm.
Cụm hoa không có cuống, nằm giấu trong bẹ lá; lá bắc hình mũi mác nhọn; hoa 6 - 12 cái, xếp thành hình cái bánh xe, hoa có màu trắng và có đốm tím ở giữa; đài có 3 răng dài, hẹp và nhọn; tràng có ống, dài mang 3 thùy; nhị không có chỉ nhị, bao phấn có 2 ô song song; có nhị lép, cánh môi to chẻ thành 2 thùy. Toàn cây nhất là phần thân rễ có mùi thơm và vị nóng.
Mùa hoa quả: tháng 5 đến tháng 7.
Cần tránh bị nhầm lẫn với cây Kaempferia angustifolia mà người dân ở Phú Thọ cũng gọi với tên Địa liền.
Phân bố, thu hái, chế biến
Cây mọc hoang và được trồng khắp nơi, có 9 - 10 loài ở nước ta. Cây còn mọc ở Campuchia, Lào, Trung quốc (Quảng đông, Quảng tây, Vân nam, Đài Loan), Malaixia, Ấn Độ.
Thu hái:
Từ tháng 12 - 3 năm sau, người ta đào củ về, cần chọn những cây đã trên 2 năm, rửa sạch sạch đất cát, thái thành miếng mỏng, xông diêm sinh một ngày rồi phơi khô. Tuyệt đối không sấy than, củ sẽ đen mùi kém thơm. Có nơi chỉ đào củ về, rửa sạch phơi khô.
Địa liền rất dễ bảo quản, hầu như không bị mốc mọt mặc dù điều kiện bảo quản không hơn so với các vị thuốc khác.

Cây Địa liền
Bộ phận sử dụng
Bộ phận sử dụng được là thân rễ. Được thu hái vào mùa đông, rửa sạch rồi phơi khô, không được sấy bằng than.

Thân rễ Địa liền
Liều lượng & Cách dùng
Địa liền thường được dùng làm thuốc trợ tiêu hoá, làm ngon miệng, chóng tiêu và còn dùng làm thuốc xông. Ngâm rượu dùng xoa bóp chữa phù tê tay chân, tê thấp nhức đầu, đau nhức.
Ngày dùng 2 - 4g dưới dạng thuốc sắc, thuốc bột, thuốc viên hay pha chè để uống.
Địa liền còn dùng trong kỹ nghệ cất tinh dầu chế nước hoa và bảo vệ quần áo chống nhậy.

Bài thuốc Địa liền