Thông tin hoạt chất y học

Điền Thất

Dạng bào chế & Đóng gói:Dược liệu

Tổng quan & Dược lý

Tên gọi, danh pháp

Tên Tiếng Việt: Cây điền thất.

Tên khác: Cây điền thất còn được gọi là cốt khí củ, hổ trượng căn, phù linh, nam hoàng cầm, co hớ hườn (Thái), mèng kẻng (Tày), hổng lìu (Dao).

Tên khoa học: Reynoutria japonica Houtt., Polygonum cuspidatum Sieb. et Zucc., P. reynoutria Mak., Reynoutria elata_Nak.. Thuộc họ Rau răm (_Polygonaceae).

Cây điền thất: Vị thuốc có nhiều tác dụng chữa bệnh 1.png

Cây điền thất

Đặc điểm tự nhiên

Cây nhỏ, sống lâu năm. Rễ mọc bò dưới đất, phình thành củ cứng, ruột màu vàng, vỏ màu nâu đen. Thân hình trụ, nhẵn, mọc thẳng đứng, cao 0.5 - 1m, thường có những đốm tím màu hồng. Lá mọc so le, cuống ngắn, hình trứng, đầu tù, hơi nhọn, mép nguyên, dài 5 - 12cm, rộng 3.5 - 8cm, mặt trên màu lục sẫm, có khi nâu đen, bẹ chìa ngắn.

Cụm hoa ngắn hơn lá, mọc thành chùm ở kẽ lé; hoa nhỏ màu trắng, hoa đực và hoa cái riêng; bao hoa có 5 phiến, hoa đực có 8 nhị; hoa cái có bầu ba góc.

Quả 3 cạnh, màu nâu đỏ.

Mùa hoa quả: Tháng 10 - 11.

Cây điền thất có thể bị nhầm lẫn vì có nhiều cây cũng mang tên “cốt khí” như cốt khí thân tím (T. purpurea Pers.), cốt khí muồng hay cốt khí hạt (Cassia occidentalis L.) thuộc họ Vang (Cacsalpiniaceae), cốt khí dây (Sabia olacifolia_Stapf) họ Thanh phong (_Sabiaceae) và cốt khí thân trắng (Tephrosia candida DC.) thuộc họ Đậu (Fabaceae).

Cây điền thất: Vị thuốc có nhiều tác dụng chữa bệnh 2.png

Lá và hoa của cây điền thất

Phân bố, thu hái, chế biến

Cây điền thất có nguồn gốc ở vùng Đông Á, sau lan xuống khắp vùng cận nhiệt đới, bao gồm Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam, Lào và một vài nơi khác.

Ở Việt Nam, cây mọc hoang dại ở vùng núi cao, từ 1000 - 1600m và được trồng rải rác trong nhân dân ở vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ.

Cây điền thất ưa ẩm và ưa sáng thường mọc thành cụm trong các thung lũng, nơi gần nguồn nước (như Sa Pa). Vào mùa đông cây rụng lá; ra hoa quả nhiều hàng năm, có thể mọc chồi từ thân rễ. Do hiếm gặp trong tự nhiên, nên có tác giả đã đưa cây điền thất vào Sách Đỏ Việt Nam 1996 để lưu ý bảo vệ.

Cây điền thất có thể được thu hoạch quanh năm, nhưng tốt nhất là vào tháng 8 - 9 (có nơi thu hái vào tháng 2 - 3). Đào lấy rễ cây, rửa sạch đất cát, bỏ rễ con, phơi khô. Có thể thái thành phiến mỏng.

Điền thất không mùi, vị hơi đắng. Loại điền thất khô, có nhiều bột, thịt vàng, không mốc, không mọt, không vụn nát là tốt. Để nguyên to đường kính trên 2cm, hoặc thái vát thành phiến mỏng dưới 4mm.

Bộ phận sử dụng

Bộ phận sử dụng được của cây điền thất là rễ. Y học cổ truyền dùng rễ cây điền thất thay cho hoàng cầm với tên hoàng cầm nam.

Liều lượng & Cách dùng

Ngày dùng 6 - 10g điền thất dưới dạng thuốc sắc hoặc ngâm rượu cùng các vị thuốc khác mà uống.