Giao
Tổng quan & Dược lý
Tên gọi, danh pháp
Tên tiếng Việt: Giao.
Tên khác: Cây Kim Dao; Cây xương khô; San hô xanh; Xương cá; Cây nọc rắn; Cây càng tôm; Càng cua; Cây xương khô; Thập nhị; Cây quỳnh cành giao…
Tên khoa học: Euphorbia tirucalli L., thuộc họ Euphorbiaceae (Thầu dầu).
Đặc điểm tự nhiên
Cây nhỡ, có thể cao tới 4 – 8 m. Thân cây to bằng cổ tay, cành hình trụ dài, màu lục, gần như mọc vòng, nhìn giống như cành san hô. Lá hẹp, rộng tầm 2 mm, dài khoảng 12 – 16 mm; mọc trên các cành nhỏ, thường rụng rất sớm.
Cụm hoa có bao chung, nhiều nhị, có 5 tuyến hình bầu dục, nhị nhiều; đầu nhụy hoa hình đầu và có 3 vòi chẻ đôi. Quả nang ít lông, có 3 mảnh lồi. Hạt hình trái xoan nhẵn.
Toàn cây có nhựa mủ trắng.

Hình ảnh Cây Giao
Phân bố, thu hái, chế biến
Giao có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới Châu Phi và hiện này được trồng ở khắp các vùng nhiệt đới khác. Ở khu vực Đông Nam Á, giao có ở Indonesia, Philippin, Malaysia, Thái Lan, Lào, Campuchia. Ở Việt Nam, giao cũng được trồng làm cảnh ở khắp nơi. Ở một số vùng đồi các tỉnh miền trung, hay ở núi đá vôi thấp thuộc tỉnh Ninh Bình và Thanh Hóa, còn thấy cây mọc trong trạng thái hoang dại, có thể do trồng trọt trước đây.
Giao đặc biệt ưa sáng, chịu được nắng nóng và khô hạn. Cây có thể sống được trên nhiều loại đất, kể cả đất cát khô ven biển hay ở vùng đất bán hoang mạc cằn cỗi của Ninh Thuận. Giao ra hoa quả hàng năm, tuy nhiên hạt không đóng vai trò quan trọng trong việc nhân giống. Giao có khả năng tái sinh rất mạnh, từ một mẩu thân hoặc cành nếu được tiếp xúc với đất đều chóng mọc rễ và phát triển thành cây giao mới.
Giao thu hái cây quanh năm, có thể dùng tươi hay phơi, sấy khô.
Bộ phận sử dụng
Toàn cây – Herba Euphorbiae Tirucalli.
Liều lượng & Cách dùng
Cành và rễ cây giao dùng dưới dạng thuốc sắc; nhựa thường dùng bôi ngoài da.