Giềng giềng
Tổng quan & Dược lý
Tên gọi, danh pháp
Tên Tiếng Việt: Giềng giềng, Gièng gièng, Cây lâm vố, Kok chăn, Cây hoa thơm, Dây máu.
Tên khác: Bastard teak, Bengal kino tree, flame of the forest, butea gum (Anh); buteé touffue, érythrine monosperme (Pháp).
Tên khoa học: Butea monosperma (Lam.) Taub. Họ: Fabaceae (Đậu).
Đặc điểm tự nhiên
Giềng giềng là cây gỗ cao 8 - 10m, có thân vặn vẹo và cành không đều. Vỏ dày loang lỗ như mốc trắng, màu xám nâu, có nhựa màu đỏ. Cành non có lông.
Lá giềng giềng to và là lá kép lông chim lẻ. Lá có cuống chung dài 12 – 20 cm, có rãnh ở giữa. Lá chét 3, dài 10 - 20 cm và không giống nhau. Lá chét cuối hình thoi - mắt chim. Các lá chét bên không cân, hình trái xoan hay trái xoan ngược, tù, mặt dưới có nhiều lông mềm, dày đặc. Lá kèm rất ngắn.
Cụm hoa mọc ở kẽ lá thành chùm dài, thõng xuống. Lá bắc của cụm hoa dễ rụng. Hoa có màu vàng nhạt hoặc đỏ da cam sáng chói, cong, có lông mềm, xếp thành chuỳ dài hình trụ. Tràng hoa có cánh cờ rộng ngửa ra phía sau, cánh hoa bên hình liềm, cánh thìa hình nửa vòng tròn; bộ nhị hoa có nhị trên rời.
Quả đậu thuôn, tù ở hai đầu, rất mỏng, hơi có lông mềm màu trắng, có vân mạng, mép quả dày. Hạt màu đỏ, hình bầu dục rộng, nhẵn và phẳng.
Hoa thường mọc từ tháng 6 đến tháng 10.
Phân bố, thu hái, chế biến
Chi Butea Roxb có 2 loài ở Việt Nam, trong đó có cây giềng giềng. Cây ưa sáng, mọc ở chỗ trống trên các trảng cây bụi, trong rừng thưa rụng lá và rừng thưa cây họ Dầu, trên đất sét cát, ở độ cao tới 1.500m.
Cây giềng giềng phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới Nam Á và Đông Nam Á, bao gồm Ấn Độ, Sri Lanka, các nước Ðông Dương đến Indonesia (Nêpan, Mianma, Trung Quốc, Campuchia, Thái Lan). Ở nước ta, cây mọc nhiều ở những chỗ trống vùng đồng bằng và trong các savan, trên đất sét cát ở độ cao tới 1.500 m, từ Quảng Trị đến Ðồng Nai (Quảng Trị, Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông, Đồng Nai).
Giềng giềng thích nghi cao với vùng có khí hậu nhiệt đới điển hình, với hai mùa khô và mưa rõ rệt. Cây ưa sáng, thường mọc trên loại đất đỏ bazan dễ thấm nước, ra hoa quả nhiều, hoa có màu đỏ đẹp nên thường được trồng làm cảnh và lấy bóng mát ở những nơi công cộng. Hạt giềng giềng có khả năng nảy mầm khoẻ.
Gỗ giềng giềng màu đỏ tía, cứng và chịu lực cao, nhưng do thớ gỗ không thẳng nên ít dùng trong xây dựng, mà chỉ dùng đốt lấy than. Than gỗ giềng giềng cháy bền và cho năng lượng cao. Ngoài ra, nhựa của vỏ thân cho loại gôm đỏ rất tốt, vỏ thân cũng là nguồn nguyên liệu để sản xuất tannin (Vu van Dung et al, 1996).

Hoa màu da cam sáng chói, cong, có lông mềm, xếp thành chuỳ dài
Bộ phận sử dụng
Bộ phận dùng được của giềng giềng là nhựa, hạt và vỏ. Nhựa trích từ cây gồm phân nửa là gôm.
Liều lượng & Cách dùng
Hạt giềng giềng được dùng trị giun, với liều ngày là 0,5 – 1,5g. Dịch ép tươi của hạt để nhuận tràng. Gôm nhựa của cây trị tiêu chảy, kiết lỵ, ngày 0,5 – 1,5g.
Dùng liều cao, ngày 2 – 3g để điều trị lao phổi, viêm hạch, xuất huyết dạ dày và bàng quang. Còn dùng chữa vết thương.
Lá và hoa giềng giềng được dùng chữa kinh nguyệt không đều. Vỏ cây phối hợp với gừng chữa sổ mũi, cảm lạnh và ho. Vỏ cây và hạt còn chữa rắn cắn.
