Thông tin hoạt chất y học

Hậu phác (Vỏ)

Dạng bào chế & Đóng gói:Dược liệu

Tổng quan & Dược lý

Tên gọi, danh pháp

Hậu phác có tên khoa học là Cortex Magnoliae officinalis, là vỏ của cây Magnolia officinalis Rehd. et Wils thuộc họ Magnoliaceae (họ Mộc lan).

Hậu phác

Dược liệu Hậu phác - Cortex Magnoliae officinalis

Đặc điểm tự nhiên

Cây Hậu phác chính thức (tên khoa học Magnolia officinalis Rehd. et Wils.) là loài cây gỗ to, thường cao trên 715m. Vỏ thân Hậu phác màu tím nâu. Lá Hậu phác mọc so le, phiến lá hình trứng thuôn rộng từ 10 - 20cm, dài 22 - 40cm, đầu hơi nhọn, hẹp dần về phía cuống. Cuống lá không long, to, dài 2,4 - 4,4cm. Đường kính hoa Hậu phác có thể tới 12cm, màu trắng, mùi thơm, cuống hoa thô to. Quả kép (gồm nhiều đại rời), hình trứng dài từ 9 - 12cm, đường kính 5 - 6,5cm.

dược liệu Hậu phác

Cây Hậu phác - Magnolia officinalis Rehd. et Wils.

Loài thứ Hậu phác (tên khoa học Magnolia officinalis var biloba Rehd et Wils) có đặc điểm bên ngoài rất giống loài Hậu phác chính thức, chỉ khác nhau ở đặc điểm đầu lá hõm xuống chia thành hai thuỳ.

Vỏ thân: Vỏ thân Hậu phác phơi khô cuộn thành ống kép hoặc ống đơn, thường được gọi là “đồng phát” (ống hậu phác), dày khoảng 0,2 - 0,7cm, dài 30 - 35cm. Phần vỏ thân gần rễ loe ra như loa kèn, thường gọi là “hoa đồng phác”, dày khoảng 0,3 - 0,8cm, dài 13 - 25cm. Mặt ngoài của vỏ thô ráp, màu nâu xám, đôi khi có những vảy dễ bóc ra; có vân nhăn dọc rõ và có lỗ vỏ hình bầu dục. Bên trong lớp vỏ thô có màu nâu vàng; mặt trong tương đối trơn, màu nâu tím, có sọc dọc nhỏ, khi cạo ra xuất hiện vết dầu rõ. Vỏ thân Hậu phác cứng và khó bẻ gãy, vị cay hơi đắng, mùi thơm.

Vỏ rễ (căn phác): Vỏ rễ Hậu phác có dạng phiến lát không đều hoặc ống đơn, đôi khi cong giống như ruột gà nên thường gọi là kê trường phác. Chất gỗ của rễ cứng nhưng dễ bẻ gãy, mặt gãy có xơ.

Vỏ cành (chi phác): Vỏ cành Hậu phác dạng ống đơn, dày khoảng 0,1 - 0,2cm, dài 10 - 20cm. Chất gỗ giòn và dễ bẻ gãy, mặt gãy có xơ giống vỏ rễ.

Phân bố, thu hái, chế biến

Phân bố

Cây này hiện chưa được trồng phổ biến ở nước ta. Cây sinh trưởng chủ yếu ở những nơi khí hậu mát, ẩm ở Trung Quốc như các tỉnh Quảng Tây, Phúc Kiến, Vân Nam, hoặc một số tỉnh giáp biên giới Trung Quốc như Hà Giang, Lai Châu, Sơn La, Tuyên Quang.

Thu hái và chế biến

Thu hoạch vỏ Hậu phác vào khoảng tháng 5 - 6. Lựa chọn những cây tuổi thọ từ 20 năm trở lên, cạo lấy vỏ như vỏ cây quế rồi chế biến sơ bộ. Có nhiều cách chế biến khác nhau, sau đây là hai phương pháp phổ biến nhất:

Phương pháp 1: Cho vỏ vào ngăn gỗ, đun nóng cho bốc hơi nước rồi phun nước lạnh vào, đun và phun nước lạnh như vậy 3 lần là được, đem ra cuộn thành cuộn.

Phương pháp 2: Đào hố dưới đất, cho vỏ vào, đậy rơm và ủ trong 3 - 4 ngày cho ra hơi nước, sau đấy cuộn lại thành từng ống.

Tuỳ theo cách chế biến mà hình dáng của vị thuốc sẽ khác nhau. Ở nước ta, người ta thường không cuộn vỏ khi chế biến.

Bộ phận sử dụng

Vỏ thân, vỏ rễ, vỏ cành.

vỏ hậu phác

Vỏ Hậu phác tươi

Liều lượng & Cách dùng

Ngày dùng 3 - 9g, phối hợp trong các bài thuốc.