Hoàng tinh hoa trắng
Tổng quan & Dược lý
Tên gọi, danh pháp
Tên Tiếng Việt: Hoàng tinh hoa trắng.
Tên khác: Hoàng tinh nhiều hoa; Hoàng tinh hoa trắng.
Tên khoa học: Disporopsis longifolia Craib, thuộc họ Asparagaceae.
Đặc điểm tự nhiên
Cây thân thảo, sống lâu năm, cao khoảng 0,6 – 1 m. Thân rễ mọc thành chuỗi to mập, gồm những dóng tròn, bên trên có sẹo to, nhiều ngấn ngang và lõm nom như cái chén. Thân cây đứng, không phân nhánh, nhẵn, nhiều đốm tía ở gốc. Lá mọc so le, không cuống, hình trứng hoặc hình bầu dục, dài khoảng 10 – 16 cm, rộng khoảng 5 – 8 cm, hai mặt nhẵn, đầu nhọn, gốc tròn, mép lượn sóng, nổi rõ ở mặt dưới là gân lá hình cung.
Hoa mọc khoảng 5 – 10 cái, tập trung ở kẽ lá và hướng rủ xuống; bao hoa gồm 6 thùy màu trắng dính vào nhau thành hình chuông hoặc hình chén, dài 8 – 10 mm; thùy của bao hoa có phần phụ; nhị 6, chỉ nhị rất ngắn và được đính vào chỗ lõm ở đầu phần phụ, bầu hình tròn, bao phấn hình sợi.
Quả mọng, có 3 cạnh, hình cầu hơi, khi chín có màu tím đen.
Mùa hoa: Vào tháng 3 – 5.
Mùa quả: Vào tháng 6 – 8.
Phân bố, thu hái, chế biến
Vùng phân bố của Hoàng tinh hoa trắng chủ yếu là ở các tỉnh phía Nam Trung Quốc, các tỉnh phía Bắc Việt Nam, Thái Lan và Lào. Ở Việt Nam, hoàng tinh hoa trắng chỉ phát hiện thấy ở các tỉnh vùng núi phía bắc, từ Nghệ An trở ra, bao gồm Hà Giang, Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Thái Nguyên, Bắc Cạn, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thanh Hóa, Nghệ An, Phú Thọ (Thanh Sơn), Vĩnh Phúc (Tam Đảo) (theo kết quả điều tra của Viện Dược liệu (1961 – 2000)). Độ cao phân bố so với hoàng tinh hoa đỏ rộng hơn, từ 500 m đến 1700 m.

Cây Hoàng tinh hoa trắng
Hoàng tinh hoa trắng thường mọc rải rác dưới tán rừng núi đá vôi ẩm, là cây đặc biệt ưa sáng và ưa ẩm. Phần trên mặt đất vào mùa đông hằng năm sẽ lụi tàn và mọc lại vào đầu mùa xuân. Khi có lá non sẽ ra hoa quả ngay sau đó. Cây con mọc từ hạt vào khoảng tháng 3 đến tháng 5. Phần thân rễ của cây thường tạo nên những khóm lớn do rễ phân nhánh nhiều tạo thành.
Cũng như hoàng tinh hoa đỏ, Hoàng tinh hoa trắng gặp vấn nạn khai thác rất nhiều. Vùng phân bố tự nhiên của Hoàng tinh hoa trắng bị thu hẹp do nạn phá rừng làm nương rẫy. Nhiều vùng rừng trước kia có nhiều Hoàng tinh hoa trắng, nay không còn nữa như huyện Quản Bạ – Hà Giang (1969); Đà Bắc – Hoà Bình (1973);…
Do đó, từ năm 1966, Hoàng tinh hoa đỏ cũng được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam để bảo vệ. Cây có thể trồng được bằng đầu mầm thân rễ hoặc bằng hạt, dưới tán rừng ẩm. Tuy nhiên, cây có thể thu hoạch được sau khi trồng 4 - 5 năm (theo Nguyễn Tập, 1996).
Thân rễ đã được loại bỏ gốc thân và rễ con, đem rửa sạch rồi phơi hoặc sấy ở nhiệt độ thấp. Dược liệu mang nhiều đốt, trên mỗi đốt có một vòng màu nâu, dài khoảng 5 – 10 cm, hình con quay hoặc hình chùy, dính liền với nhau thành một khối. Mặt ngoài có nhiều vết nhăn nheo, màu vàng nâu đến nâu đen. Mép có vết tích của thân khí sinh, những vết vảy của lá đã rụng và vết tích rễ con.
Chế biến: Đem dược liệu đun với nước để loại chất gây ngứa, rồi tiến hành chế như với hoàng tinh hoa đỏ.
Bộ phận sử dụng
Bộ phận sử dụng được của Hoàng tinh hoa trắng là thân rễ được chế thành thục.
Liều lượng & Cách dùng
Ngày dùng 12 – 20 g dạng thuốc sắc, tán bột hay ngâm rượu uống.