Thông tin hoạt chất y học

Kê nội kim

Dạng bào chế & Đóng gói:Dược liệu

Tổng quan & Dược lý

Tên gọi, danh pháp

Tên tiếng Việt: Kê nội kim.

Tên khác:  <!--td {border: 1px solid #ccc;}br {mso-data-placement:same-cell;}--> Màng mề gà; Kê chuân bì; Kê hoàng bì; Kê tố tử…

Tên khoa học:  <!--td {border: 1px solid #ccc;}br {mso-data-placement:same-cell;}--> Endothelium Corneum Gigeriae Galli.

Đặc điểm tự nhiên

Kê nội kim là lớp màng màu vàng phủ mặt trong của mề gà Gallus domesticus Brisson thuộc họ Phasianidae.

Màng tốt có màu vàng nâu, trên mặt có những vết nhăn dọc, chất dòn, dễ vỡ vụn, vết bẻ vụn có cạnh bong. Toàn màng mề gà dài chừng 3,5cm, rộng 3cm, dày chừng 5mm.

Kê nội kim

Kê nội kim là lớp màng màu vàng phủ mặt trong của mề gà

Phân bố, thu hái, chế biến

Khi giết gà người ta lập tức ổ mề gà, bóc ngay lấy màng rồi mới rửa sạch phơi khô. Có người nói không rửa, nhưng thực tế phải rửa nhưng nhẹ tay để thức ăn còn sót lại trôi hết. Kê nội kim quanh năm có thể thu hoạch, dùng trong nước và xuất khẩu.

Bộ phận sử dụng

Màng mào gà.

<!--td {border: 1px solid #ccc;}br {mso-data-placement:same-cell;}-->

Liều lượng & Cách dùng

Liều dùng mỗi ngày uống 2 - 5g dưới dạng thuốc sắc hoặc thuốc bột.

Kê nội kim thiêu tồn tính (đốt thành than) tán nhỏ, rây mịn dùng bôi chữa viêm niêm mạc cổ họng, viêm niêm mạc miệng, cam răng (đơn thuốc kinh nghiệm của nhân dân).

Ngoài Kê nội kim, ta còn dùng gan gà Hepar Galli tươi hay phơi khô chữa quáng gà, đái dầm.

Kê nội kim phơi khô tán nhỏ trộn với dầu bôi lên mụn nhọt sau lưng.