Kim thất tai
Tổng quan & Dược lý
Tên gọi, danh pháp
Tên Tiếng Việt: Cây Bầu đất.
Tên khác: <!--td {border: 1px solid #cccccc;}br {mso-data-placement:same-cell;}--> Tam thất giả; rau tàu bay; bầu đất; thiên hắc địa hồng; cây lá đắng; nam phi diệp; khảm khon; dây chua lè; rau lúi.
Tên khoa học: <!--td {border: 1px solid #cccccc;}br {mso-data-placement:same-cell;}--> Cacalia procumbens Lour.
Đặc điểm tự nhiên
Kim thất tai là một loại cây thảo mọc bò, hơi leo. Loại cây này cao từ 2 - 3m, đường kính thân rất nhỏ khoảng 2 - 4cm. Cây này thường phân cành ở gốc. Khi cây còn nhỏ, thân cây có nhiều lông mịn màu trắng. Khi chúng ta già đi, lớp tóc này bắt đầu rụng. Lá mọc so le, có cuống lá ngắn và mép có răng cưa không đều. Mặt trên của lá màu lục sẫm, mặt dưới màu tía. Đầu hoa màu vàng cam thường mọc giữa kẽ lá hoặc đầu cành. Quả hình trụ.

Kim thất tai có tên Tiếng Việt là cây Bầu đất
Phân bố, thu hái, chế biến
Kim thất tai phân bố chủ yếu ở nhiều nước Châu Á như Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan, Philippines và Việt Nam. Là một loại cây dễ trồng, hiện nay cây này được tìm thấy ở nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới. Ở nước ta, loại thảo dược này mọc hoang nhưng cũng được trồng phổ biến làm rau và dược liệu. Toàn cây được thu hái vào mùa hè, có thể dùng tươi hoặc phơi nắng.
Bộ phận sử dụng
Thân non và Lá.
Liều lượng & Cách dùng
Người ta thường dùng cành, lá, ngọn non chần qua nước sôi, nấu canh cua. Cây cũng được sử dụng như một món salad rau với giấm và dầu. Canh Kim thất tai được coi là rất bổ và mát.
Ở Campuchia, thân và lá được dùng phối hợp với các vị thuốc khác để hạ nhiệt trong các bệnh thương hàn và bệnh sởi, tinh hồng nhiệt. Ở Malaysia, người ta còn dùng lá trộn với dầu dấm để ăn và còn có thể dùng cây chữa bệnh kiết lỵ. Ở Java, loại cây này được dùng để chữa đau thận.
Tùy vào mục đích sử dụng các bài thuốc liên quan, người ta có thể sử dụng dược liệu theo nhiều cách khác nhau. Theo Đỗ Tất Lợi, liều dùng hàng ngày có thể từ 30 - 40g hoặc hơn.