Thông tin hoạt chất y học

Lộc giác sương

Dạng bào chế & Đóng gói:Dược liệu

Tổng quan & Dược lý

Tên gọi, danh pháp

Tên Tiếng Việt: Lộc giác sương.

Tên khoa học: Cornu cervi degelatinarum.

Đặc điểm tự nhiên

Nhung hươu nai già sẽ cứng lên thành gạc hay sừng. Mùa hè hươu nai thường cạ đầu vào cây cho sừng rụng. Trong gạc hươu nai không có máu, có hoặc không có da, màu sáng bóng, có thể có màu vàng, hơi đỏ hoặc trắng ngà. Phần dưới gạc có u nổi lên, phần trên nhẵn và nhọn.

Căn cứ vào kích thước, màu sắc gạc và số lượng nhánh, người ta có thể phân biệt gạc hươu với gạc nai. Gạc hươu có khoảng 3 hoặc 4 nhánh, dài 30 - 50cm với đường kính khoảng 3 cm. Chất gạc hươu mịn và cứng, cứng chắc, các u tròn cách nhau và thường có màu đỏ nâu. Gạc nai cũng giống gạc hươu, mịn và cứng. Tuy nhiên gạc nai thường to và dài hơn: Đường kính khoảng từ 3 đến 6 cm, dài từ 50 đến 60 cm, số nhánh nhiều hơn với 3 - 6 nhánh, màu tro nâu, u không rõ. Gạc nai và gạc hươu khi bẻ đều có vết màu trắng, bên trong có màu tro và tủy hẹp.

Phân bố, thu hái, chế biến

Gạc được thu lấy ở những con hươu nai còn sống tốt hơn gạc tự rụng. Gạc bao bì liên tảng là gạc liền với xương đầu và có da đầu. Gạc liên tảng là gạc liền với xương đầu nhưng không có da đầu.

Một cách khác để thu gạc là vào tháng 6 - 8 người ta vào rừng để nhặt gạc tự rụng. Gạc trắng ngà, còn phần đế dài là gạc tốt nhất trong loại gạc tự rụng. Các loại gạc không còn đế, đế lõm vào màu sắc trắng nhợt là loại kém.

Gạc khi dùng được cua thành từng khúc ngắn. Sau đó tẩm với mật sao vàng hoặc dùng than đốt qua và tán nhỏ.

Lộc giác sau đó có thể chế biến thành cao ban long hoặc lộc giác sương.

Lộc giác sương: Có hai loại lộc giác sương. Lộc giác sương theo lối Nhật Bản và lộc giác sương theo lối Trung Quốc và Việt Nam. Với Lộc giác sương Nhật Bản, dừng hươu nai đốt cho đen (hoặc thiêu) rồi tán nhỏ. Lộc giác sương của Trung Quốc và Việt Nam là phần lộc giác sau khi đã nấu cao ban long. Phần này được đem đi phơi khô và tán nhỏ.

Lộc giác sương

Lộc giác sương

Bộ phận sử dụng

Lộc giác sau khi nấu cao phơi hoặc sấy khô được nghiền hoặc tán nhỏ thành bột màu trắng trắng.

Liều lượng & Cách dùng

Liều dùng hàng ngày là 5 - 10 g. Có thể dụng các dạng thuốc bột, thuốc viên hoặc thuốc sắc.