Màng tang
Tổng quan & Dược lý
Tên gọi, danh pháp
Tên Tiếng Việt: Màng tang.
Tên khác: Tất trùng già; Sơn thương; Mộc khương.
Tên khoa học: Litsea cubeba (Lour.) Pers – là một loài thực vật có hoa thuộc họ Lauraceae (họ Long não).

Cây Màng tang – Litsea cubeba (Lour.) Pers.
Đặc điểm tự nhiên
Màng tang là loài cây nhỏ hay cây nhỡ, cao 6 đến 8m. Cành cây màu xám hình trụ, mang nhiều nốt sần nhỏ và khía dọc.
Lá mọc so le, hình mác, gốc thuôn, đầu nhọn, mép nguyên, rộng 2 - 2,5 cm, dài 7 - 10 cm, hai mặt nhẵn, mặt dưới trắng xám, mặt trên màu lục sẫm bóng. Cuống lá ngắn, chỉ khoảng 1 - 1,2 cm. Lá vò ra có mùi thơm mát khá giống mùi sả.
Cụm hoa đơn tính màu trắng mọc ở kẽ lá, nhiều tán đơn có cuống chung dài 0,8 - 1 cm, mỗi tán có 4 - 6 hoa. Lá bắc 4 khum, có lông ngắn ở mặt trong, nhẵn ở mặt ngoài. Ống bao hoa ngắn, có 6 thùy gần bằng nhau xếp thành 2 hàng. Hoa đực có 9 nhị, bao gồm: 6 cái ở phía ngoài dài 2mm, chỉ nhị mảnh, bao phấn thuôn dẹt, có lông ở gốc; 3 cái thụt vào phía trong, chỉ nhị có tuyến. Nhị hoa cái tiêu giảm chỉ còn lại những chỉ nhị, 3 cái phía trong có tuyến dẹt ở gốc; bầu hình trứng, nhẵn.
Quả mọng, màu xanh và chuyển sang màu đen khi chín, hình tròn hoặc hình trứng.
Mùa hoa: Tháng 3 – 5.
Mùa quả: Tháng 7 - 8.

Hoa Màng tang
Phân bố, thu hái, chế biến
Màng tang là loài cây bản địa của Trung Quốc và vùng Đông Nam Á.
Ở Việt Nam, cây mọc hoang dại ở khắp vùng rừng núi cao có khí hậu lạnh mát như Hà Giang, Lai Châu, Lào Cai, Tuyên Quang, Yên Bái.
Thu hái: Thu hái rễ, cành và lá quanh năm, thu hoạch quả vào lúc tiết trời chuyển từ hè sang thu.
Chế biến: Rửa nhiều lần các bộ phận thu hoạch với nước sạch để loại bỏ tạp chất, bụi bẩn rồi cắt thành từng đoạn nhỏ và sấy khô hoặc phơi khô. Quả Màng tang cũng được rửa sạch và chưng cất lấy tinh dầu.
Bảo quản: Dược liệu sau khi đã làm khô được bảo quản trong bao bì kín. Tinh dầu được cho vào hũ thủy tinh đậy chặt bằng nắp và để nơi thoáng mát, tránh ánh nắng trực tiếp từ mặt trời.
Bộ phận sử dụng
Rễ, lá, cành và quả cây Màng tang.
Liều lượng & Cách dùng
Liều dùng: Rễ 10 đến 15 g/ngày, quả 3 đến 9 g/ngày dưới dạng thuốc sắc.