Mè đen
Tổng quan & Dược lý
Tên gọi, danh pháp
Tên Tiếng Việt: Mè đen.
Tên khác: Vừng đen; kala Til; Chi ma; Hồ ma; Hồ ma nhân; du tử miêu; cự thắng tử; bắc chi ma.
Tên khoa học: Semen Sesami Nigrum – hạt già phơi khô của cây Mè đen (Sesamum indicum). Đây là loài cây có hoa thuộc họ Pedaliaceae (họ Vừng).

Hạt mè đen Semen Sesami Nigrum
Đặc điểm tự nhiên
Cây mè đen thuộc loại cây thảo sống hằng năm, cao chừng 0,6m, thân có nhiều lông mịn. Lá ở gốc mọc so le và lá phía trên mọc đối, đơn, không có lá kèm, mép nguyên hoặc hơi khía, có cuống, gốc và đầu thuôn, gân lá hình mạng rõ ở mặt dưới.
Hoa lưỡng tính màu trắng hoặc hơi hồng, mọc đơn độc ở kẽ lá gần ngọn, có cuống ngắn. Đài hơi hợp ở gốc. Tràng hình ống loe ở đầu, cánh hoa hàn liền chia thành 2 môi, môi dưới gồm 3 thùy, môi trên 2 thùy; 4 nhị, 2 dài 2 ngắn; bầu 4 ô, chứa nhiều noãn và có lông mềm. Quả nang có lông, hình trụ dài, có khía dọc, mở thành 4 mảnh.
Nhiều hạt nhỏ hình trái xoan dẹt, màu vàng hay nâu đen, nhẵn bóng hoặc hơi có vân lưới. 1 đầu nhọn, 1 đầu tròn, dài chừng 3 - 5 mm, rộng 2 mm. Vỏ hạt mỏng, có hạt noãn màu nâu ở đầu nhọn, 2 lá mầm màu trắng có dầu. Hạt có mùi thơm, vị hơi ngọt.
Mùa hoa quả: Tháng 4 đến tháng 6.

Hình ảnh cây mè đen
Phân bố, thu hái, chế biến
Thế giới: Cây Mè đen được trồng ở vùng nhiệt đới châu Á từ cổ xưa. Hiện nay, cây phân bố ở các tỉnh phía nam Trung Quốc (bao gồm cả đảo Hải Nam), Malaysia, Thái Lan, Lào, Campuchia, Ấn Độ...
Việt Nam: Cây được trồng ở khắp cả nước.
Thu hái: Thu hoạch vào mùa thu (khoảng tháng 7, 8, 9) khi quả chín. Cắt cả cây đem phơi khô đập lấy hạt, loại bỏ tạp chất rồi tiếp tục phơi khô.
Chế biến: Sao hạt Mè đen với lửa nhỏ tới khi hạt nổ lách tách, phồng đều, mùi thơm đặc trưng rồi lấy ra, tãi mỏng cho nguội. Ngoài ra còn có thể ép hạt lấy dầu.
Bảo quản: Để nơi khô, mát, tránh mốc, mọt.
Bộ phận sử dụng
Hạt đã phơi khô.
Liều lượng & Cách dùng
Ngày dùng 12 đến 60g mè đen dạng bột hoặc nấu cháo.