Thông tin hoạt chất y học

Me rừng

Dạng bào chế & Đóng gói:Dược liệu

Tổng quan & Dược lý

Tên gọi, danh pháp của me rừng

Me rừng có tên khoa học là Phyllanthus emblica L, thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), còn có nhiều tên gọi khác như Chùm ruột núi, Mận rừng, Cam lam, Trám rừng, Chùm ruột rừng, Me quả tròn, Mắc kham, Mạy kham (Tày), Diều cam (Dao), Xi xa liên (Kho).

Đặc điểm tự nhiên của me rừng

Me rừng có chiều cao thân trung bình từ 5-8 m, phân thành nhiều cành, cành mềm, trên cành có các lá nhỏ xếp lại thành hai dãy có hình dạng trông như lá kép lông chim, còn có lá kèm nhưng rất nhỏ, hình ba cạnh.

Hoa xuất hiện vào tháng 4 đến tháng 11 hàng năm, hoa nhỏ có màu vàng, thuộc loại hoa đơn tính cùng gốc, cụm hoa thành xim co mọc ở nách lá phía dưới của cành, với rất nhiều hoa đực, vài hoa cái. Quả thịt, hình cầu trước mọng, có màu nâu vàng nhạt, có khía nhưng không rõ, rất mờ, nếu khô thành quả nang. Kích thước quả tương tự như quả táo ta.

me-rung-1

Cây me rừng trong tự nhiên

Phân bố, thu hái, chế biến

Me rừng là cây mọc hoang ở khu vực rừng núi, đồi trọc, có nguồn gốc từ Trung Quốc, Ấn Độ, cũng có nhiều ở nước ta.

Thu hoạch rễ vào bất kỳ thời điểm nào trong năm, đào về rửa sạch đất cát, phơi hay sấy khô. Còn quả thu hái vào mùa thu, đồ hơi nước rồi phơi hay sấy khô.

me-rung-2

Quả của cây me rừng

Bộ phận sử dụng

Bộ phận sử dụng làm thuốc của Me rừng là quả, rễ và lá, có thể sử dụng vỏ cây.

Liều lượng & Cách dùng

Mỗi ngày sắc lấy nước uống khoảng 10 - 30 quả để điều trị ho, đau họng, sốt, khô miệng, khát nước, cảm mạo.

Mỗi này sắc rễ từ 15 - 20 g lấy nước uống điều trị viêm ruột, tiêu chảy, đau bụng đi ngoài, tăng huyết áp.

Lở loét, mẩn ngứa dùng lá nấu nước rửa bên ngoài.