Thông tin hoạt chất y học

Mò hoa trắng

Dạng bào chế & Đóng gói:Dược liệu

Tổng quan & Dược lý

Tên gọi, danh pháp

Tên Tiếng Việt: Mò hoa trắng

Tên khác: Bạch đồng nữ, Mò trắng, Bấn trắng, Lẹo trắng, Mấn trắng, Mò mâm xôi

Tên khoa học: Clerodendron fragrans Vent, thuộc họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae)

Đặc điểm tự nhiên

Mò hoa trắng thuộc loại cây nhỏ, có chiều cao từ 1 – 1,5m. Thân cây còn non dạng hình vuông và có lông mềm, thân già dạng hình tròn. Lá có dạng hình xoan hoặc hình trái tim, mép lá răng cưa, mặt trên lá có màu sẫm hơn mặt dưới lá, mặt trên lá có lông cứng ngắn và thưa, trong khi mặt dưới có lông mềm dày và có tuyến nhỏ tròn màu vàng, cuống lá cũng có lông và tuyến ở phần tiếp nối với phiến lá, dài 8cm. Hoa nhiều mọc thành hình mâm xôi ở ngọn cành có màu trắng hay hồng nhạt, đường kính cụm hoa khoảng 10cm. Đài hoa hình phễu, có lông mịn và tuyến mật, phía trên xẻ 5 thùy hình 3 cạnh tròn. Tràng hoa có 5 cánh mỏng, phía dưới thành hình ống nhỏ dài từ 2,5cm trở lên. Nhị 5 dính trên miệng ống tràng mọc thò ra ngoài tràng, chỉ nhị mảnh, bao phấn thuôn, bầu thượng, hình trứng. Quả Mò hoa trắng thuộc loại quả hạch được bao bọc bởi đài hoa vẫn còn tồn tại.

mo-hoa-trang 1

Mò hoa trắng có tên khoa học là Clerodendron fragrans Vent, thuộc họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae)

Phân bố, thu hái, chế biến

Phân bố

Cây Mò hoa trắng mọc hoang ở nhiều vùng nước ta, nhiều nhất ở các tỉnh vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ. Trên thế giới, cây phân bố nhiều ở Ấn Độ, phía nam Trung Quốc, các nước Đông Nam Á như Malaysia, Phillipin, Indonesia, Thái Lan, Lào.

Thu hái, chế biến

Lá Mò hoa trắng được thu hái quanh năm, nhưng thường thời điểm thu hái tốt nhất lúc cây đang hoặc sắp ra hoa. Lá thu hái về đem phơi hoặc sấy khô.

Ngoài lá, rễ Mò hoa trắng cũng được sử dụng làm thuốc, rễ được đào về, đem rửa sạch, phơi hay sấy khô, thái mỏng khi sắc uống.

mo-hoa-trang 2

Mò hoa trắng được thu hái quanh năm

Bộ phận sử dụng

Bộ phận sử dụng của Mò hoa trắng là lá và rễ.

Liều lượng & Cách dùng

Chữa bệnh khí hư, bạch đới: Liều 15 – 20 g lá khô, đun sôi trong 30 phút rồi uống, có thể phối hợp với Ích mẫu, Ngải cứu.

Chữa vàng da, niêm mạc: Rễ Mò hoa trắng 10 g, thêm 400 ml, đem sắc còn 200 ml, uống ngày 2 lần. Hoặc rễ và thân Mò hoa trắng 600 g, thêm 5 lít nước, cô đặc còn 90 g, thêm tá dược làm thành viên (120 viên), ngày uống 8 viên chia làm 2 lần.