Thông tin hoạt chất y học

Mồng tơi

Dạng bào chế & Đóng gói:Dược liệu

Tổng quan & Dược lý

Tên gọi, danh pháp

Tên tiếng Việt: Mồng tơi

Tên khác: Rau mồng tơi, Mồng tơi đỏ, Mồng tơi tía, Lạc quỳ, Phyắc păng (Tày), Chàn mau nhây (Dao)

Tên khoa học: Basella rubra L., họ Mồng tơi (Basellaceae)

Đặc điểm tự nhiên

Mồng tơi là loại dây leo, sống 1 hay 2 năm. Thân quấn, dài 1,5 – 2m, phân nhánh, màu xanh nhạt hoặc tím nhạt. Lá mọc so le, đơn, phiến lá hình bầu dục hoặc hình trứng, gốc bằng hoặc hình tim, đầu tù hoặc hơi nhọn, dài 5 – 7cm, rộng 1 – 3cm, nguyên, hai mặt nhẵn, mặt trên sẫm bóng.

Cụm hoa hình bông mọc ở kẽ lá cách xa nhau, không cuống, màu trắng hay tím nhạt. Mỗi hoa kèm theo 2 lá hắc nhỏ, rụng sớm, đài hoa 5 thùy hợp, mọng nước sau khi hình thành quả, tràng 0, nhị 5, chỉ nhị ngắn, bầu nhớt.

Quả bế, mọng nước, hình cầu đựng trong bao hoa nạc, màu tím sẫm, hạt nhỏ. Mùa hoa quả vào tháng 6 – 8.

mong-toi-1

Cây mồng tơi rất dễ tìm thấy trong tự nhiên

Phân bố, thu hái, chế biến

Phân bố

Cây Mồng tơi có lẽ có nguồn gốc từ Ấn Độ. Ngày nay, Mồng tơi được trồng phổ biến ở khắp vùng nhiệt đới như Châu Á, Châu Phi, châu Mỹ, đặc biệt được trồng nhiều nhất ở Malaysia, Philippin và Việt Nam. Tại Việt Nam, cây Mồng tơi mọc hoang hoặc được trồng cho leo hàng rào để lấy rau ăn.

Thu hái, chế biến

Thân và lá Mồng tơi được thu hái quanh năm (thường vào mùa hè và mùa thu lúc cây sinh trưởng nhanh), thường dùng tươi.

Hạt thu ở quả chín, phơi khô.

mong-toi-2

Mồng tơi được thu hái quanh năm

Bộ phận sử dụng

Bộ phận sử dụng của cây Mồng tơi là thân, lá và hạt.

Liều lượng & Cách dùng

Lá và cành non cây Mồng tơi dùng tươi để nấu canh ăn.