Ngấy hương
Tổng quan & Dược lý
Tên gọi, danh pháp
Ngấy hương còn có tên gọi khác là cây Ngấy, Ngấy chĩa lá, Ngũ gia bì hương, Đũm hương, cây Tu hú, Mác tin tang (Tày) tên khoa học là Rubus cochinchinensis Tratt., tên đồng nghĩa Rubus fruticosus Lour, Rubus playfairii Hemsl., thuộc họ Hoa hồng (Rosaceae).
Đặc điểm tự nhiên
Cây bụi, mọc dựa vào cây khác, thân cành non có lông, thân già nhẵn, có gai cong. Lá kép chân vịt mang 5 lá chét, mọc cách. Các lá kép ở ngọn có số lá chét ít hơn, chỉ còn 3 lá chét.
Phiến lá chét hình mác, gốc thuôn, đầu nhọn, lá chét giữa lớn hơn, mép có khía răng, mặt dưới phủ lông mịn, màu trắng ngà hoặc vàng xỉn, cuống lá kép dài 3 – 6cm, có lông và gai nhỏ, lá kèm rụng sớm.
Cụm hoa mọc ở kẽ lá gần ngọn cành, thành từng chùm hình chùy. Đài hoa gồm 5 răng nhỏ, phủ lông ở mép và mặt trong, tràng hoa gồm 5 cánh hoa mỏng, ngắn hơn đài, màu trắng. Nhị nhiều, xếp thành lớp, chỉ nhị dẹt.
Lá noãn nhiều. Quả phức hình cầu hoặc hình trứng mang các lá đài tồn tại, mang các quả hạch con, khi chín có màu đỏ hoặc hơi đen, ăn được.

Ngấy hương trong tự nhiên
Phân bố, thu hái, chế biến
Phân bố
Ngấy hương là loài đặc hữu của Đông Dương nhưng tập trung chủ yếu ở Việt Nam, rải rác có ở Lào, Campuchia. Đôi khi còn có ở biên giới Việt Trung.
Ở Việt Nam, cây mọc hoang ở các vùng rừng núi thấp (dưới 1000m), vùng trung du, có khi cả ở vùng đồng bằng. Cây ưa sáng nên thường gặp ở vùng ven rừng, hoặc trồng làm hàng rào ở nương rẫy do có gai.
Thu hái và chế biến
Thu hái thân, lá, quả quanh năm nhưng chủ yếu vẫn là vào mùa hè, sau đó đem phơi khô dùng dần.

Ngấy hương là loại cây ưa sáng
Bộ phận sử dụng
Thân, lá, đôi khi dùng cả quả.

Cụm hoa mọc ở kẽ lá gần ngọn cành
Liều lượng & Cách dùng
Quả: Dùng 6 – 12 g mỗi ngày. Thân, lá: Dùng từ 15 – 30 g.


