Thông tin hoạt chất y học

Nhài (Hoa)

Dạng bào chế & Đóng gói:Dược liệu

Tổng quan & Dược lý

Tên gọi, danh pháp

Tên Tiếng Việt: Nhài, Lài, Mạt lị.

Tên khác: Mạt lợi; Mạt lị; Nhài kép; Nhài đơn; Lài

Tên khoa học: Jasminum sambac (L.) Aiton, thuộc Họ Nhài – Oleaceae. Còn được gọi là Nyctanthes sambac (L.)

Đặc điểm tự nhiên

Cây nhài là loài cây nhỡ, nửa bò, cao tới 0,5 – 3 m (1,6 – 9,8 ft) với những chiếc lá sáng màu quyến rũ tạo ra những bông hoa có hương thơm ngọt ngào màu trắng rất hấp dẫn vào mùa nóng. Cây có nhiều cành mọc xòe ra, cành cây non mảnh và lông mềm trải ra. Lá hình trái xoan – bầu dục, nhọn ở đầu và ở phía cuống, kích thước dài từ 30 – 70 mm, rộng từ 20 – 35 mm, bóng ở cả hai mặt, khe các gân phụ ở mặt dưới có lông. Ở những gân bên lá có các đường kẻ, mỗi bên 5 – 6 gân lồi ở dưới, cong đột ngột ở mép, gân con thành mạng lưới.

Hoa được tạo thành cụm từ 3 – 12 cụm ở cuối cành, đường kính khoảng 2 – 3 cm với 5 – 9 thùy. Cụm hoa ở đầu ngọn cành và mọc thưa, ít hoa. Hoa nhài màu trắng và có mùi thơm ngát. Lá bắc hình sợi chỉ. Đài hoa có lông và ống dạng chuông, 10 thùy hình dải. Tràng có ống khỏe, 10 thùy hình bầu dục trái xoan. Nhị hình trái xoan, có trung đới rộng, mũi nhọn ngắn và tù. Bầu cụt; đầu ngụy không vượt quá các thùy của đài hay vượt quá các nhị.

Quả gồm 1 – 2 lá noãn, hình cầu, đường kính 6 mm, màu đen, bao bọc bởi đài phủ lên.

hoa nhài

Cây nhài có hoa màu trắng rất thanh khiết

Phân bố, thu hái, chế biến

Cây nhài thường được gọi là Arabian Jasmine trong tiếng Anh, mặc dù nó không có nguồn gốc từ Ả Rập. Loại cây này có nguồn gốc ở Tây Nam và Nam Á, chủ yếu là Philippines, Ấn Độ, Myanmar và Sri Lanka (Lasekana và Lasekan, 2012). Jasminum sambac và các loài khác của chi lan sang Trung Đông, Ba Tư, và sau đó là Châu Âu vào thế kỷ thứ mười tám. Hiện nay nó được trồng gần như khắp các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới. Cây nhài là loài cây ưa sáng, được trồng nguyên sản ở Ấn Độ. Ở Ấn Độ, nó rất phổ biến và được gọi là Mogra. Nó là quốc hoa của Philippines, nơi nó được gọi là sampaguita, cũng như là một trong ba quốc hoa của Indonesia, nơi nó được gọi là melati putih.

Tại Việt Nam, nhài được trồng ở nhiều nơi, như: Hà Nội, Ninh Bình, Thanh Hóa, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh. Nó được trồng rộng rãi vì có hoa thơm ngọt ngào hấp dẫn. Nó được sử dụng trong các khu vườn như một loại cây cảnh. Hoa cũng được sử dụng để làm nước hoa và pha trà hay để làm thơm thức ăn.

hoa nhài dược liệu

Hoa nhài rất được ưa chuộng để ướp trà

Mùa ra hoa của nhài từ tháng 5 – 7 và mùa quả từ tháng 7 – 9. Loài này có nhiều biến động về mặt nhân giống thực vật. Chỉ có một số giống có thể được tái sản xuất bằng hạt. Sau khi được gieo trồng, nó không mang hạt và cây được tái sản xuất chỉ bằng cách cắt, tách lớp, tách cành và các phương pháp nhân giống vô tính khác.

hoa nhài chữa bệnh

Hoa nhài có mùi hương rất thơm

Bộ phận sử dụng

Bộ phận sử dụng của nhài, gồm: Hoa, lá và rễ - Flos, Folium et Radix Jasmini.

Người dân thường thu hoạch rễ vào mùa thu đông, đem rửa sạch, thái nhỏ, phơi hay sấy khô. Lá thu hái quanh năm. Hoa thu hái vào hè thu, khi hoa mới nở, có thể dùng phơi khô hoặc tươi đều được.

Liều lượng & Cách dùng

Ít dùng làm thuốc. Có nơi sắc hoa dùng rửa mắt, hoặc pha như pha chè hay sắc uống chữa lỵ. Liều dùng: 3 – 5 g hoa, lá dạng thuốc sắc, còn dùng hoa pha làm trà uống; dùng 1 – 1,5 g rễ nghiền trong nước.

Có khi người ta giã lá vắt lấy nước trộn với lòng trắng trứng đắp lên mắt.