Thông tin hoạt chất y học

Nhọ nồi

Dạng bào chế & Đóng gói:Dược liệu

Tổng quan & Dược lý

Tên gọi, danh pháp

Tên Tiếng Việt: Cỏ nhọ nồi.

Tên khác: Cỏ mực, hàn liên thảo, lẻ trường, phong trường.

Tên khoa học: Eclipta alba Hassk. (Eclipta erecta Lamk.); Thuộc họ: Cúc (Asteraceae).

Đặc điểm tự nhiên

Cỏ nhọ nồi là một loài cỏ mọc thẳng đứng đôi khi bò lan rồi vươn thẳng, cao từ 30 đến 40cm, có cây có thể cao đến 80cm. Thân tròn có lông cứng áp sát, màu lục hoặc đỏ tía. Lá mọc đối, hình mác, có lông ở hai mặt, dài từ 2-8cm, rộng từ 5-15mm, gốc thuôn, đầu nhọn, mép có răng rất nhỏ, hai mặt lá có lông, cuống lá rất ngắn.

Cụm hoa mọc ở ngọn thân hoặc kẽ lá thành hình đầu, cuống dài từ 1 đến 4 cm, có lông thô áp sát, đầu có đường kính 0.8 - 1.2cm. Hoa màu trắng, hoa cái ở ngoài, hình lưới, xếp thành một hàng, hoa lưỡng tính ở trong, hình ống, mào lông giảm thành vảy nhỏ và ngắn. Tràng hoa cái có lưỡi nguyên hoặc xẻ thành 2 răng, tràng hoa lưỡng tính có 4 thùy hình trái xoan, nhị 4. Lá bắc thuôn nhọn, dài từ 5 - 6 mm, cũng có lông. Mùa hoa quả từ tháng 2 đến tháng 5 hằng năm. Quả bế, có 3 cạnh hoặc dẹt, có cánh, dài khoảng 3mm, rộng 1.5mm và đầu cụt.

Cỏ nhọ nồi: Người bạn của gan1.jpg

Cây nhọ nồi rất phổ biến vùng nông thôn Việt Nam

Hằng năm cây ra nhiều hoa quả, mọc tự nhiên bằng hạt là chủ yếu. Với khả năng mọc chồi gốc và phân cành nhiều nên cây rất dễ phát triển, hay tạo thành đám bò lan trên mặt đất.

Nhọ nồi được nhân giống bằng hạt. Hạt chín rải rác vào mùa hè và mùa thu, vì vậy hạt chín đến đâu thu hái ngay đến đó, đem phơi khô và bảo quản đến mùa xuân năm sau thì gieo. Hạt cây cỏ nhọ nồi rất nhỏ nhưng tỉ lệ nảy mầm rất cao. Thường áp dụng cách gieo hạt trong vườn ươm, rồi sau đó lấy cây con đi trồng. Đất vườn ươm và đất trồng nên làm thật tơi xốp. Nên bón phân lót (từ 10 đến 15 tấn phân chuồng cho 1 ha đất gieo trồng). Lên luống như luống cải rồi trồng với khoảng cách 20 x 10cm hoặc 20 x 15cm. Sau khi cây bén rễ cần bón phân thúc cách 20 ngày một lần.

Phân bố, thu hái, chế biến

Phân bố: Cây nhọ nồi mọc nhiều ở hầu hết các nước thuộc vùng Nam Á và Đông Nam Á. Ở Việt Nam, cây nhọ nồi phân bố ở khắp các tỉnh vùng đồng bằng, trung du và miền núi, đến độ cao 1500m ở các tỉnh phía Nam. Cây là loài thực vật vừa ưa ẩm vừa ưa sáng, chúng mọc xen lẫn với các loại cỏ thấp, ven bờ sông, ruộng, ven đường đi, bãi hoang,... Cây dễ tìm kiếm vì mọc hoang khắp nơi ở nước ta.

Ngoài việc thu hái từ nguồn hoang dại, trước đây, cỏ nhọ nồi chỉ được trồng lẻ tẻ với quy mô nhỏ ở các gia đình. Gần đây, cây bắt đầu được trồng phổ biến hơn ở một số nơi.

Thu hái: Toàn bộ phần trên mặt đất của cây cỏ nhọ nồi được thu hái trước khi cây ra hoa.

Chế biến: Sau khi thu hái đem phơi khô. Khi dùng, rửa sạch, loại bỏ tạp chất, cắt thành đoạn dài từ 3 đến 5 cm, đem đi sao qua hoặc sao cháy. Dùng lửa to sao nhanh đến khi bên ngoài cây có màu đen thì phun ít nước để trừ hỏa độc. Để nguội ở nơi khô ráo thoáng mát.

Bộ phận sử dụng

Toàn thân cây nhọ nồi.

Liều lượng & Cách dùng

Liều dùng: Ngày dùng từ 6 đến 12g dưới dạng sắc uống hay làm thành viên.

Cách dùng: Có thể dùng nhọ nồi bằng cách giã vắt nước uống trong khi bị rong kinh, trĩ ra máu, bị thương chảy máu. Có thể chế với dầu dừa, dầu vừng để làm thuốc bôi ngoài da, thuốc mọc tóc, thuốc nhuộm.