Thông tin hoạt chất y học

Ớt chuông

Dạng bào chế & Đóng gói:Dược liệu

Tổng quan & Dược lý

Tên gọi, danh pháp

Tên Tiếng Việt: Ớt chuông, Ởt, Lạc tiêu, Phiên tiêu, Mạy phết (Tày), Mác phết, Tàm phân chiu (Dao), Mré (Kho).

Tên khoa học: Capsicum frutescens L. (C. annuum L.) thuộc Họ Cà – Solanaceae.

Đặc điểm tự nhiên

Ớt chuông là loài cây bụi nhỏ cao khoảng 0,5 – 1 m, phân cành nhiều. Lá cây mọc đối, có hình trái xoan nhọn ở đầu. Hoa màu trắng với tràng hoa màu trắng lục hoặc vàng lục, thường mọc đơn độc ở nách lá, ít khi thành đôi. Đài hoa có hình chuông. Tương tự, tràng hoa cũng có hình chuông hoặc hình bánh xe, màu trắng hay vàng nhạt, được chia thành 5 thùy. Hoa có 5 nhị, bầu chia thành 2 đến 3 ô.

Quả mọng của cây thường mọc thẳng, hình ellipsoid hình nón đến hình mũi mác. Chúng thường rất nhỏ và có mùi hăng, dài 10 – 20 mm (0,39 – 0,79 in) và đường kính 3 – 7 mm (0,12 – 0,28 in). Quả ớt chuông thường có màu vàng nhạt và có màu đỏ tươi khi quả chín, nhưng cũng có thể có các hình dạng, khối lượng và màu sắc khác nhau: Thuôn, mảnh hẹp, tròn, màu đỏ, vàng, tím, xanh tùy thứ. Hạt ớt chuông có hình thận và dẹp.

Ớt chuông ra hoa và kết trái quanh năm.

hoa ớt chuông

Hoa màu trắng với tràng hoa màu trắng lục hoặc vàng lục

Phân bố, thu hái, chế biến

Ớt chuông có thể có nguồn gốc ở Nam hoặc Trung Mỹ (Brazil). Cây nhanh chóng được trồng khắp các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới hoặc mọc hoang ở các khu vực này cho đến ngày nay. Đây là cây trồng thích hợp với nhiều vùng khí hậu nên tại nước ta, cây ớt chuông được trồng khá phổ biến.

dược liệu ớt chuông

Quả mọng của cây ớt chuông thường mọc thẳng, hình ellipsoid hình nón đến hình mũi mác

Bộ phận sử dụng

Bộ phận sử dụng của ớt chuông là quả, rễ, thân, cành.

Liều lượng & Cách dùng

Ớt chuông có thể được bào chế thành cồn thuốc tươi (1 phần ớt, 3 phần cồn 33 độ, hoặc dùng 1 – 4g hằng ngày trong một pôxiô) để dùng ngoài băng bó hoặc dùng bông mỡ sinh nhiệt trong chứng đau thần kinh do thấp khớp hay ngộ lạnh.

Hoặc dùng 0,3 – 1g bột ớt chuông trong 1 ngày, dạng viên, hoặc dùng cồn thuốc tươi (1 phần ớt, 3 phần cồn 33 độ, hoặc dùng 1 – 4g hằng ngày trong một pôxiô) để nấu ăn.

Dùng để trị sốt, trúng phong bất tỉnh và trị rắn cắn, người dân giã nát lá ớt chuông vắt lấy nước cốt uống hoặc dùng bã đắp ngoài vết thương rắn cắn. Dùng lá ớt chuông sao vàng sắc uống có thể trị phù thũng, liều dùng 20 – 30g lá ớt chuông/ngày.

Hoạt chất Ớt chuông - Tác dụng, Chỉ định & Liều dùng | Sống Khoẻ