Phòng kỷ (Rễ)
Tổng quan & Dược lý
Tên gọi, danh pháp
Tên Tiếng Việt: Phòng kỷ (Rễ)
Tên khác: Phấn phòng kỷ; Hán phòng kỷ; thạch thiềm thừ; sơn ô qui; đảo địa cung; kim ty điếu miết; bạch mộc hương
Tên khoa học: Stephania tetrandrae S. Moore thuộc họ Menispermaceae (Tiết dê).
Phòng mang ý nghĩa là phòng ngừa, đề phòng; kỷ là cho bản thân, ý nói là vị thuốc có tác dụng phòng ngừa, ngăn ngừa bệnh tật cho bản thân.
Có nhiều vị thuốc cùng tên Phòng kỷ nhưng nguồn gốc thực vật lại khác nhau. Do đó, khi sử dụng cần biết rõ mình sử dụng loại Phòng kỷ nào vì sẽ cho các tác dụng khác nhau.
Sau đây là một số vị cùng tên thường dùng:
Quảng phòng kỷ hay còn gọi là mộc phòng kỷ, phòng kỷ, đẳng phòng kỷ (cây thường mọc ở Quảng Tây, Trung Quốc): Là rễ phơi hay sấy khô của cây quảng phòng kỷ có tên khoa học là Aristolochia westlandii Hemsl. thuộc họ Aristolochiaceae (Mộc thông).
Hán trung phòng kỷ: Là rễ phơi hay sấy khô (Radix Aristolochiae heterophyllae) của cây hán trung phòng thành mộc hương có tên khoa học là Aristolochia heterophylla Hemsl. thuộc họ Aristolochiaceae (Mộc thông).
Mộc phòng kỷ: Là rễ phơi hay sấy khô của cây mộc phòng kỷ có tên khoa học là Cocculus trilobus DC. thuộc họ Menispermaceae (Tiết dê).
Đặc điểm tự nhiên
Phấn phòng kỷ là cây mọc leo và sống lâu năm, có rễ phình ra thành củ, mặt ngoài rễ có màu nâu hay màu tro nhạt, đường kính của rễ có thể lên đến 6cm.
Thân mềm, có thể dài tới 2,5 – 4m, vỏ thân màu xanh nhạt, phía gốc hơi đỏ.
Lá mọc so le, hình khiên, dài 4 – 6cm, rộng 4,5 – 6cm, đầu lá nhọn, mép nguyên, gốc lá hình tim, mặt trên màu xanh, mặt dưới màu tro, hai mặt đều có lông ngắn và mềm. Cuống lá không đính vào đáy lá mà vào phía trong phiến lá, có chiều dài gần bằng chiều dài của lá.
Hoa đực và hoa cái khác gốc, kích thước nhỏ và có màu xanh nhạt. Quả hạch, hình cầu hơi dẹt.
Mùa hoa vào các tháng 4 – 5.
Mùa quả vào các tháng 5 – 6.

Lá cây phong kỷ mọc so le
Phân bố, thu hái, chế biến
Cây này chưa thấy mọc ở Việt Nam. Phòng kỷ mọc hoang ven rừng thấp, các đồi, cỏ rậm ở các tỉnh Triết Giang, Phúc Kiến, Giang Tây, An Huy, Quảng Tây, Quảng Đông ở Trung Quốc.
Thu hoạch vào mùa thu (tháng 9 – 10), đào lấy rễ, rửa sạch, cạo bỏ vỏ ngoài, rễ con, phơi tái, rễ nhỏ để nguyên, rễ to bổ dọc, cắt khúc 5 - 20cm, phơi hoặc sấy khô.
Chế biến bằng cách loại bỏ tạp chất, ngâm nước cho mềm, rửa sạch, thái lát dày, phơi khô.
Bộ phận sử dụng
Bộ phận sử dụng của cây Phòng kỷ và rễ đã phơi hay sấy khô.

Các bộ phận của cây Phòng kỷ
Liều lượng & Cách dùng
Liều dùng từ 6 - 10g dược liệu một ngày, dạng hoàn tán hoặc thuốc sắc. Có thể dùng một đơn độc hoặc phối hợp với các loại thuốc khác.