Thông tin hoạt chất y học

Qui giáp và qui bản

Dạng bào chế & Đóng gói:Dược liệu

Tổng quan & Dược lý

Tên gọi, danh pháp

Tên tiếng Việt:  <!--td {border: 1px solid #ccc;}br {mso-data-placement:same-cell;}--> Qui giáp và qui bản.

Tên khác:  <!--td {border: 1px solid #ccc;}br {mso-data-placement:same-cell;}--> Mai rùa và yếm rùa.

Tên khoa học:  <!--td {border: 1px solid #ccc;}br {mso-data-placement:same-cell;}--> Carapax et Plastrum Testudinis.

Đặc điểm tự nhiên

Rùa có kích thước từ 11 cm đến 185 cm và một loài có thể nặng gần một tấn.

Đặc điểm mai rùa và yếm rùa

Mặc dù nhiều loài động vật, từ động vật không xương sống đến động vật có vú, đều có mai tiến hóa, nhưng không loài nào có kiến trúc giống như rùa. Mai rùa có một đỉnh (mai) và một đáy (plastron).

Có những loài rùa có chiều dài mai (cách tiêu chuẩn để đo các loài rùa) dưới 10 cm (4 inch), như ở loài rùa xạ hương dẹt (Ster Anotherus depressus), và hơn 1,5 mét (4,9 feet), như ở rùa luýt rùa biển (Dermochelys coriacea).

Yếm rùa có dạng phiến (tấm) hình bầu dục hay chữ nhật dài, rộng 5,5 – 17cm, dài 6,4 – 21cm. Mặt ngoài yếm màu nâu vàng nhạt đến nâu, có 12 tấm khối sừng, mỗi tấm có vân dạng tia sạ, màu nâu tía. Mặt trong màu trắng vàng đến trắng tro, có vết máu hoặc thịt còn sót lại.

Xương mai và xương sống là những cấu trúc xương thường nối với nhau dọc theo mỗi bên của cơ thể, tạo ra một hộp xương cứng. Hộp này, bao gồm xương và sụn, được giữ lại trong suốt cuộc đời của rùa. Vì mai là một bộ phận cấu thành của cơ thể nên rùa không thể thoát ra ngoài, mai cũng không bị rụng như da của một số loài bò sát khác.

Môi trường sống

Một số loài sống ở vùng khí hậu lạnh theo mùa với mùa sinh trưởng chỉ khoảng ba tháng; một số khác sống ở vùng nhiệt đới và phát triển quanh năm. Một số loài rùa cạn hiếm khi nhìn thấy nước, trong khi những loài rùa khác hầu như dành cả cuộc đời của chúng trong đó, có thể là trong một cái ao nhỏ duy nhất hoặc đi du ngoạn trên đại dương rộng lớn.

Sinh sản

Tất cả các loài rùa đều đẻ trứng trên cạn và không có con nào cho thấy sự chăm sóc của cha mẹ. Tuy nhiên, giữa sự đồng nhất rõ ràng này, có một loạt các hành vi sinh sản, hệ sinh thái và sinh lý.

Qui giáp và qui bản 1

Hình ảnh Qui bản (mai rùa)

Phân bố, thu hái, chế biến

Phân bố

Rùa được tìm thấy trên khắp thế giới ở tất cả các lục địa và ở tất cả các đại dương, ngoại trừ Nam Cực. Có hơn 300 loài rùa thuộc khoảng 90 chi trong 13 họ. Rùa đã xuất hiện trong hồ sơ hóa thạch hơn 200 triệu năm trước và có mặt trên trái đất rất lâu trước các loài động vật có vú và các dạng bò sát ngày nay.

Rùa đã thích nghi với nhiều loại môi trường khác nhau, nhưng số lượng loài lớn nhất xuất hiện ở đông nam Bắc Mỹ và Nam Á. Ở cả hai khu vực, hầu hết các loài là thủy sinh, sống trong các vùng nước khác nhau, từ ao nhỏ, đầm lầy đến hồ và sông lớn. Một số ít sống trên cạn (rùa cạn), và những loài khác phân chia thời gian của chúng giữa đất và nước.

Thu hái - Chế biến

Qui giáp và qui bản được nuôi trồng thủy sản ở Chiết Giang, Quảng Đông và các tỉnh khác ở Trung Quốc, trong đó các lớp vỏ bị tước bỏ sau khi bắt và mổ xẻ.

Sau đó đem phơi khô, đập nhỏ, đun với nước ba ngày 3 đêm như nấu cao ban long. Lọc loại bỏ bã, nước lọc được đem cô đặc, đổ vào khuôn, để nguội cắt thành từng miếng to nhỏ tùy ý.

Bộ phận sử dụng

Sau khi bắt được rùa, luộc qua rồi bóc lấy mai và yếm, cạo sạch thịt còn sót lại, đem phơi khô.

Qui giáp và qui bản 2

Qui giáp và qui bản

Liều lượng & Cách dùng

Qui giáp và qui bản ngày uống 12 - 24 g dưới dạng thuốc sắc, thuốc viên hay thuốc bột.

Cao qui bản ngày uống 10 - 15 g, chia 3 lần uống.