Rẻ quạt (Thân rễ)
Tổng quan & Dược lý
Tên gọi, danh pháp
Tên Tiếng Việt: Rẻ quạt
Tên khác: Dẻ quạt; Lưỡi đồng; Xạ can; Bạch quả
Tên khoa học_:_ Belamcanda Sinensis (L) DC
Đặc điểm tự nhiên
Rẻ quạt là một loại thảo mộc sống lâu năm. Cây có bộ rễ phát triển tốt và thân rễ bò. Cây có thân nhỏ, lá mọc thẳng có thể cao tới 1m.
Lá hình mác và hơi bẹ, mọc ở thân, xòe ra như rẻ quạt, mọc xen kẽ nhau thành 2 vòng (2 hàng). Lá dài khoảng 20-40cm và rộng 15-20mm, dạng phiến dài, có gân song song và xếp khít nhau.
Cụm hoa dạng xim dài 20-40 cm. Chậu dài 6 cm. Cánh hoa màu vàng cam có đốm tím. Hoa có 3 nhị và phần dưới là bầu.
Quả nang hình bầu dục có 3 cánh hoa, dài khoảng 23-25mm, chứa nhiều hạt hình cầu nhỏ, màu lục sẫm, bóng.

Cấu tạo của cây rẻ quạt
Phân bố, thu hái, chế biến
Rẻ quạt tập trung ở nhiều nước châu Á như Lào, Ấn Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản…
Ở Việt Nam, cây này phân bố ở nhiều tỉnh: Cần Thơ, TP HCM, Huế, Ninh Bình, Hà Nội, Heping, Lào Cai…
Rẻ quạt được trồng quanh năm, tốt nhất là vào mùa xuân. Trồng từ mầm tách ra từ cây mẹ.
Thu hoạch vào mùa xuân và mùa thu.
Không nên chọn những loại giòn, mốc, đen, rỗ, xốp vì đó là thuốc kém chất lượng.
Lấy củ, ngâm nước vo gạo qua đêm, vớt ra, nấu với lá tre khoảng 3 giờ. Sau đó sấy khô để sử dụng sau.
Theo kinh nghiệm Việt Nam:
Dùng tươi: Rửa sạch, đập dập và ngậm với chút muối.
Dùng khô: Nghiền thành bột cho vào ấm siêu nhỏ và uống với nước tiểu của trẻ em khỏe mạnh dưới 3 tuổi.
Rửa sạch, ủ đều, thái thành từng lát mỏng, phơi khô.
Bảo quản ở nơi khuất, cao ráo, thoáng mát, tránh ẩm mốc, nấm mốc.
Bộ phận sử dụng
Người ta dùng thân rễ (thường gọi là củ) của cây để làm thuốc.
Rễ cong, ngắn, màu vàng nhạt hoặc xám, cùi trắng, thơm, cứng.

Cây rẻ quạt trong tự nhiên
Liều lượng & Cách dùng
Mỗi ngày dùng 3 - 6g.