Sâm cau (Thân rễ)
Tổng quan & Dược lý
Tên gọi, danh pháp của sâm cau
Tên tiếng Việt: <!--td {border: 1px solid #ccc;}br {mso-data-placement:same-cell;}--> Sâm cau (Thân rễ).
Tên gọi khác: Tiên mao; Rhlzoma Curculiginis.
Tên khoa học: Curculigo orchioides Gaertn.
Họ: Hypoxidaceae.
Đặc điểm tự nhiên của sâm cau
Đặc điểm
Thân rễ Sâm cau có hình trụ, hơi cong queo, đường kính từ 4 đến 12 mm, chiều dài từ 3 đến 10 cm. Bên ngoài có màu nâu đến hơi đen, thô, có sẹo rỗ ở rễ con và nếp nhăn ngang.
Thân rễ cứng và giòn, dễ bẻ gãy, mặt gãy không phẳng, ở giữa có màu nâu nhạt tới nâu hoặc nâu đen. Mùi thơm nhẹ, vị đắng và hơi cay.
Vi phẫu
Lớp bần có 3 - 10 hàng tế bào, có các bó mạch là vết tích của các rễ con, các tế bào ở mép vỏ chứa tinh thể calci oxalat, nội bì rõ. Các bó mạch của trụ giữa chồng kép, rải rác.
Sâm cau bao gồm một số lớp tế bào. Vỏ não rộng, với các bó mạch hình rễ đôi khi rải rác tế bào chứa chất nhày rải rác trong mô mềm, hình hơi tròn, đường kính 60 - 200 µm, có chứa cụm tinh thể calci oxalat dài 50 - 180 µm. Tế bào mô mềm chứa đầy hạt tinh bột.
Phân bố, thu hái, chế biến
Sâm cau được thấy ở các vùng cận nhiệt đới của châu Á, bao gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Malaysia và các nơi khác,
Thu hái thân rễ vào mùa thu hoặc mùa đông, bỏ vỏ và rễ con, rửa sạch rồi phơi dưới nắng để thu được thân rễ Sâm cau.
Bộ phận sử dụng
Bộ phận dùng làm thuốc là thân rễ (căn hành).

Thân rễ sâm cau dùng làm thuốc
Liều lượng & Cách dùng
Dùng 1 ngày 3 - 9 g. Thường phối hợp với các thuốc khác.