Thông tin hoạt chất y học

Sơn đậu căn

Dạng bào chế & Đóng gói:Dược liệu

Tổng quan & Dược lý

Tên gọi, danh pháp

Tên Tiếng Việt: Sơn đậu căn (rễ cây sơn đậu).

Tên khác: Cây quảng đậu; Khổ đậu; hòe Bắc Bộ.

Tên khoa học: Radix Sophorae Tonkinensis, Pophora subprosrlata Chu etT. Chen.

Đặc điểm tự nhiên

Sơn đậu là loại cây bụi nhỏ, cao khoảng vài mét. Cây phân nhiều nhánh, có thân hình trụ, rễ to phân nhánh. Cả thân, lá và hoa đều có lông màu vàng, mềm. Lá cây sơn đậu là kiểu lá kép, lông chim lẻ, mọc so le, các lá chét mọc đối. Lá có mặt trên nhẵn bóng, mặt dưới có lông mềm.

Hoa mọc thành chùm ở kẽ lá, hướng thẳng lên. Hoa có màu vàng, hình chuông, tràng có móng ngắn, bầu có lông.

sơn đậu căn

Sơn đậu là loại cây bụi nhỏ

Quả đậu có lông mềm, thắt lại giữa các hạt, hạt màu đen bóng.

Mùa hoa quả tháng 6 đến tháng 8.

sơn đậu căn dược liệu

Mùa quả bắt đầu từ tháng 6 đến tháng 8 hàng năm

Phân bố, thu hái, chế biến

Cây sơn đậu phân bố ở một số tỉnh của Trung Quốc như Quảng Tây, Vân Nam, Quý Châu. Còn ở Việt Nam, cây phân bố ở khu vực phía bắc giáp Trung Quốc như xã Quyết Tiến, Mèo Vạc (Hà Giang), Cao Bằng,…

Cây sinh trưởng ở khu vực nhiệt đới núi cao, mọc ở độ cáo khoảng 1000 – 1600m. Cây ưa sáng, có thể chịu bóng. Cây ra hoa quả hàng năm, có thể trồng từ hạt.

Rễ cây sơn đậu thường được thu hái vào mùa thu. Vỏ rễ sau khi lấy sẽ đem phơi khô và sao vàng khi dùng. Hoặc có thể ủ mềm, thái lát mỏng để dành dùng.

Bộ phận sử dụng

Bộ phận dùng của cây sơn đậu là rễ (vỏ rễ).

Liều lượng & Cách dùng

Ngày dùng 4 đến 12g để chữa sưng viêm, nổi mụn nhọt, mụn độc. Cách dùng: dùng dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán.

Dùng liều 6 đến 12g mỗi ngày để chữa kiết lỵ, đau bụng, ngộ độc. Cách dùng: rễ sao vàng, tán thành bột làm thành viên uống.

Dùng ngoài da để chống lở loét, mụn nhọt, các vết động vật cắn. Cách dùng: nấu cả cây sơn đậu, lấy nước sắc để rửa hoặc phơi khô tán bột, hòa với dầu vừng để bôi ngoài da.