Thanh đại
Tổng quan & Dược lý
Tên gọi, danh pháp
Tên Tiếng Việt: Cây thanh đại.
Tên khác: Chàm mèo, chàm lá to, chàm nhuộm, mã lam, đại lam, co sơm (Thái), may ốt (Tày), tần gàm (Dao).
Tên khoa học: Strobilanthes cusia (Nees.) O. Kuntze., Strobilanthes flaccidifolia Nees.. Thuộc họ Ô rô Acanthaceae.

Cây thanh đại (chàm mèo) trong tự nhiên
Đặc điểm tự nhiên
Thanh đại (Indigo pulverata levis) còn được gọi là bột chàm, là màu xanh chế biến từ nhiều loại cây khác nhau, chủ yếu từ các cây như:
- Chàm mèo (Strobilanthes cusia (Nees.) O. Kuntze.), thuộc họ Ô rô Acanthaceae.
- Cây chàm (Indigofera tinctoria) thuộc họ Cánh bướm Fabaceae.
- Nghể chàm (Polygonum tinctorium Lour) thuộc họ Rau răm Polygonaceae.
- Một số cây khác chưa thấy ở nước ta như: Cây Isatis indigotica, họ chữ thập Brassicaceae và cây Isatis indigotica Fort, cũng thuộc họ chữ thập Brassicaceae,…
Chàm mèo là loại cây nhỏ, sống lâu năm, cao 40 - 80cm. Thân nhẵn, phân nhánh nhiều, phình lên ở các mấu. Lá mọc đối, hình bầu dục hay hình trứng, gốc thuôn, đầu nhọn, mép khía răng tròn.
Cụm hoa ở kẽ lá thành bông thưa, lá bắc hình lá, những lá phía trên nhỏ hơn và không cuống. Hoa mọc so le hay mọc đối trên cụm, màu lam tím hay tím hồng. Lá đài hình chỉ, tràng hoa hơi cong, hình trụ ngắn hẹp ở phần dưới, phía trên loe ra và xẻ 5 thuỳ hình trứng, đầu cánh hoa nhăn nheo. Nhị 4, 2 đài, 2 ngăn, bao phấn kéo dài, bầu nhẵn.
Quả nang, hẹp dài.
Mùa hoa quả: Tháng 12 đến tháng 2.

Hoa và lá của cây thanh đại (chàm mèo)
Phân bố, thu hái, chế biến
Phân bố
Strobilanthes Blume là một chi lớn, được gộp thêm một số chi khác trong họ Acanthaceae như Carvia, Nilgirianthus, Golfussia, chúng hầu hết là các cây bụi, dưới bụi hoặc cây thảo, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Châu Á.
Chàm mèo có nguồn gốc ở vùng Nam Á, được trồng khá phổ biến ở Ấn Độ, Trung Quốc, Lào và Việt Nam để nhuộm vải màu chàm.
Theo một số tài liệu đã công bố, chàm mèo ở Việt Nam vừa thấy mọc tự nhiên, vừa được trồng. Tuy nhiên, qua thực tế, điều tra cây ở trạng thái trồng trọt là chủ yếu. Thường gặp ở các tỉnh Lai Châu, Hà Giang, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Cạn, trong cộng đồng người H’Mông nên có tên là “Chàm mèo”.
Cây ưa ẩm và ưa bóng, thường trồng ở nơi đất ẩm, dưới tán rừng gần bờ suối, hoặc trồng xen với các cây trồng khác trên nương rẫy và ở vườn nhà. Cây ra hoa quả nhiều vào tháng 11 đến tháng 12. Tuy nhiên chỉ có những cây không bị thu hoạch hoặc thu hái trước tháng 7 mới có hoa.
Thu hái và chế biến
Cả cây hoặc lá thu hái vào mùa hè, thu, phơi khô. Có thể chế bột chàm hay thanh đại mà dùng theo cách sau đây.
Cây tươi hoặc chỉ lấy lá, bỏ cành, hái về cho ngay vào thùng gỗ hay bể xây bằng gạch. Đổ nước sạch vào, để lên men. Mùa nóng thường ngâm 2 - 3 ngày, nếu thời tiết mát thì 5 - 6 ngày. Nhưng thường ủ men ở nhiệt độ 30 độ C, trong khoảng thời gian 12 giờ. Sau đó, gạn lấy nước và lọc qua sàng để loại bỏ cọng lá. Đổ vôi cục vào để kiềm hoá dịch lọc (8 - 10kg vôi cho 100kg cây chàm). Dùng que khuấy liên tục 4 - 6 giờ để gây oxy hoá. Dung dịch sẽ nổi bọt và ngả màu xanh lam. Có thể dùng phèn để kết tủa bột chàm.
Bột chàm được vớt ra, ép hết nước, cắt thành từng lát mỏng rồi phơi ở chỗ mát cho đến khô. Trong khi phơi, vật phẩm có thể có mùi amoniac và mốc. Khi dùng, cạo bỏ lớp mốc. Tuỳ theo cách chế biến, bột chàm có độ tinh khiết khác nhau. Chất lượng của bột chàm được xác định bằng cách định lượng indigotin. Bột chàm tốt phải chứa 60 - 70% indigotin.
Bộ phận sử dụng
Lá (còn gọi là thanh đại) đã chế biến khô của cây chàm mèo.
Thân rễ và rễ (còn gọi là Nam Ban lam căn) đã chế biến khô của cây chàm mèo.
Liều lượng & Cách dùng
Lá thanh đại (chàm mèo): 5 - 10g (tươi có thể tăng liều lượng lên 20 - 30g).
Rễ chàm mèo (Bản lam căn): 8 - 15g.