Thông tin hoạt chất y học

Thành ngạnh

Dạng bào chế & Đóng gói:Dược liệu

Tổng quan & Dược lý

Tên gọi, danh pháp

Tên tiếng Việt:  <!--td {border: 1px solid #ccc;}br {mso-data-placement:same-cell;}--> Thành ngạnh.

Tên khác:  <!--td {border: 1px solid #ccc;}br {mso-data-placement:same-cell;}--> Cây đỏ ngọn; Ngành ngạnh; Lành ngạnh.

Tên khoa học:  <!--td {border: 1px solid #ccc;}br {mso-data-placement:same-cell;}--> Cratoxylon prunifolium Dyer.

Đặc điểm tự nhiên

Cây to hoặc nhỡ, chiều cao 6 - 12 m, ở gốc có gai. Cành non có lông tơ màu vàng nhạt, cành già thì nhẵn, màu xám.

Thân ở phía ngọn có màu đỏ do lông tơ màu đỏ nên có tên là đỏ ngọn.

Lá mọc đối, hình bầu dục hoặc mác, gốc thuôn, đầu nhọn, chiều dài 6 - 11 cm, chiều rộng 2,5 – 3,5 cm, mặt trên lá có lông nhỏ, dày hơn ở mặt dưới; lá non thì có màu hồng đỏ và có lông tơ; cuống ngắn.

Hoa màu hồng nhạt, mọc riêng lẻ hoặc thành chùy nhỏ khoảng 4 - 6 cái ở kẽ lá; lá đài thì có lông ở mặt ngoài, đầu cánh hoa có khía răng; nhị nhiều; bầu có dạng hình nón.

Quả nang, chiều dài 1,5 cm, chiều rộng 0,7 - 0,8 cm. Hạt hình trứng chiều dài 0,6 cm, chiều rộng 0,3 cm.

Mùa hoa quả thường rơi vào tháng 5 đến tháng 7.

 Cratoxylon prunifolium Dyer

Cây Thành ngạnh

Phân bố, thu hái, chế biến

Ở vùng đồng bằng thì thường ít gặp vị thuốc này. Thành ngạnh mọc nhiều ở các tỉnh miền núi, nhất là vùng núi phía Bắc của nước ta như Hòa Bình, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Sơn La, Lai Châu,…

Thành ngạnh là loài cây ưa sáng và có khả năng chịu hạn cao. Cây này hay mọc lẫn chung với các cây bụi khác ở phần đồi, bờ nương rẫy hay ven rừng thưa. Còn ở nhiều nơi thuộc tỉnh Bắc Giang, Hà Tây, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc cây này mọc tập trung gần như thuần loài ở trên các đồi cây bụi.

Thành ngạnh có bộ rễ cọc khỏe và cắm sâu xuống dưới đất dài đến hơn 1m vì vậy nên thành ngạnh vẫn có thể sinh sống và phát triển được cả trên đất khô cằn, trơ sỏi đá. Hàng năm cây ra hoa và quả nhiều; tái sinh tự nhiên chủ yếu từ hạt. Cho dù thành ngạnh có bị chặt phá nhiều lần thì phần còn lại của cây vẫn có thể tái sinh cây chồi khỏe.

Thông thường người ta hay hái lá thành ngạnh để pha nước uống hay làm thuốc. Lá thành ngạnh dùng tươi hoặc có thể ủ rồi phơi khô mới dùng. Ngoài phần lá hay sử dụng làm thuốc, phần thân cành của cây cũng được dùng làm củi.

Bộ phận sử dụng

Bộ phận dùng của thành ngạnh là lá, vỏ thân, rễ dùng tươi hay ủ rồi phơi khô.

Liều lượng & Cách dùng

Có thể sử dụng lá tươi hay lá khô đều được. Nếu không có điều kiện dùng lá tươi có thể mua các sản phẩm đã được phơi khô để hãm trà uống hàng ngày.

Liều dùng và cách dùng: Lá khô 30g hay lá tươi 60g, thêm 1l nước sôi rồi ủ trong thời gian khoảng 30 phút là dùng được.