Thông tin hoạt chất y học

Thầu dầu

Dạng bào chế & Đóng gói:Dược liệu

Tổng quan & Dược lý

Tên gọi, danh pháp

Tên Tiếng Việt: Thầu dầu.

Tên khác: Đu đủ tía, Dầu ve, Tỳ ma, Dù xủng, Co húng hom (Thái), Mạ puông sí (Dao), Slùng đeng (Tày).

Tên khoa học: Ricinus communis L., thuộc họ Thầu dầu Euphorbiaceae.

Đặc điểm tự nhiên

Cây Thầu dầu là loài cây sống lâu năm, thân yếu, cao 4 - 5m, có thể phát triển đến 10 - 12m, vỏ thân có màu sắc khác nhau tùy thứ, các cành non đều có phấn trắng.

Lá lớn, mọc so le, lá có thùy chân vịt sâu, gồm 5 - 7 - 9 có khi tới 11 thùy, mép lá có răng cưa không đều; cuống dài, có tuyến; lá kèm rụng sớm.

Cụm hoa ở ngọn hay ở nách lá, thành chuỳ, hoa đực ở phía dưới, hoa cái ở trên, có nhiều lá bắc phủ ở ngoài.

Quả nang màu lục hay màu tím nhạt, có gai mềm, chứa 3 hạt. Hạt hình bầu dục, hơi dẹt, có mồng lớn, bề mặt nhẵn, ở đầu có móng (chính là áo hạt của noãn khổng), màu nâu xám, có vân đỏ hay nâu đen.

Có nhiều loại Thầu dầu, chỉ có loại Thầu dầu có lá tía mới có công dụng làm thuốc.

Cây Thầu dầu

Cây Thầu dầu

Phân bố, thu hái, chế biến

Thầu dầu là loài của Bắc Ấn Độ, được trồng ở các vùng nhiệt đới để lấy hạt ép dầu và lấy lá, như Việt Nam (Hà Giang, Phú Thọ, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc), Bắc Phi, Brazil v.v... Lá thu hái quanh năm, chủ yếu vào mùa hè thu, thường dùng lá tươi. Rễ thu hái vào mùa đông. Hạt thu hoạch vào tháng 4 - 5 với mục đích chủ yếu dùng ép dầu sử dụng trong công nghiệp.

thau dau 2

Hạt Thầu dầu ép dầu

Bộ phận sử dụng

Bộ phần sử dụng được của cây Thầu dầu là hạt, rễ và lá - Semen, Radix et Folium Ricini Communis, hạt thường gọi là Tỳ ma tử.

Hạt Thầu dầu 4

Hạt Thầu dầu

Liều lượng & Cách dùng

Liều lượng: Thường dùng 1 - 2 thìa dầu Thầu dầu đối với người lớn và 1/2 thìa ở trẻ em.

Ðể tránh buồn nôn, có thể uống cùng cà phê hay nước trái cây. Có thể dùng viên nang 2 - 10g để nhuận tràng, 10 - 40g để tẩy xổ. Dùng ngoài lấy 20 - 50g chế nước rửa thay thuốc đạn. Lá, rễ thường dùng với liều 30 - 60g. Dùng ngoài lấy lá giã đắp.

Chữa sót nhau: Liều lượng khoảng 15 hạt Thầu dầu, đem giã nhỏ rồi đắp vào lòng bàn chân. Sau khi nhau ra rồi cần rửa chân tay và các nơi có tiếp xúc với thuốc (Y học thực hành, 10/1961). Cách làm giống như vậy để chữa sinh khó (kinh nghiệm nhân dân và có ghi trong sách cổ Bản Thảo đại minh).